Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên.

13/09/2011

1. Vị trí địa lý của huyện

Yên Lạc là một trong số các huyện đồng bằng phía Nam của tỉnh Vĩnh Phúc. Diện tích tự nhiên của huyện là 106,72 Km2, chiếm 7,8% tổng diện tích tự nhiên tỉnh Vĩnh Phúc. Về gianh giới, phía bắc giáp thị xã Vĩnh Yên và huyện Tam Dương, phía Tây giáp huyện Vĩnh Tường, phía Đông giáp huyện Bình Xuyên và Mê Linh, Phía Nam là Sông Hồng tiếp giáp với tỉnh Hà Tây. Là huyện đồng bằng của tỉnh Vĩnh Phúc, nằm bên bờ Sông Hồng, có địa hình tương đối bằng phẳng rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp, công nghiệp, du lịch và dịch vụ.

Huyện Yên Lạc có 17 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn và 16 xã.

Vị trí địa chính trị và địa kinh tế của huyện có nhiều thuận lợi như giáp liền kề với các thị xã và huyện là những địa bàn có tốc độ tăng trưởng nhanh, là động lực phát triển của tỉnh Vĩnh Phúc (Thị xã Vĩnh Yên, Phúc Yên, các huyện Mê Linh, Bình Xuyên). Đồng thời, khoảng cách từ huyện đến Hà Nội cũng không lớn (50-60 Km).

Từ huyện dễ dàng kết nối thông thương với bên ngoài bằng hệ thống đường bộ và đường thuỷ.

2. Các điều kiện tự nhiên

2.1. Địa hình

Hầu hết diện tích của huyện là đồng bằng, tương đối bằng phẳng. Độ dốc trung bình từ 3-5 độ, nghiêng dần từ Bắc xuống Nam. Có một số vùng trũng. Nhìn chung, địa hình của huyện rất thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản. Cấu tạo đất ở các vùng cao có cường độ lớn, thuận lợi để xây dựng các công trình công nghiệp. Có 6 xã phía Nam ven Sông Hồng thường xuyên bị lũ lụt và sạt lở đất, đe doạ và ảnh hướng tiêu cực đến sản xuất và đời sống nhân dân,   

2.2. Khí hậu-thủy văn

Nằm trong vùng Đồng bằng Sông Hồng, huyện Yên Lạc mang đầy đủ đặc điểm khí hậu của vùng với những nét đặc trưng là nhiệt đới gió mùa. Một số đặc điểm về khí hậu của huyện (đo tại Trạm Vĩnh Yên) như sau :

- Nhiệt độ trung bình hàng năm :   24,90C, trong đó cao nhất là 29,80C (tháng 6) và nhiệt độ thấp nhất là 16,6 0C (tháng 1).

- Độ ẩm trung bình trong năm là 82-84 %, trong đó tháng cao nhất (tháng 8) là 85%, tháng thấp nhất (tháng 12) là 73-74%.

- Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.300-1.400 mm, trong đó tập trung vào tháng 8 hàng năm và thấp nhất là tháng 11.

- Tổng số giờ nắng trong năm : 1.600-1.700 giờ.

Khí hậu có hai mùa rõ rệt, độ ẩm cao, mưa nhiều và tổng lượng tích ôn lớn thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới và một số loại cây ôn đới chất lượng cao.

2.3. Đất đai-thổ nhưỡng

Hầu hết toàn bộ diện tích của huyện đã được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau. Đất chưa sử dụng chỉ có 692 Ha, chiếm 6,48% tổng diện tích. Trong tổng diện tích tự nhiên, đất nông nghiệp có 7.746,63 ha, chiếm gần 72,6%. Với diện tích nhỏ, dân số đông, nên diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người rất thấp, chỉ có 537 m2/người, còn nếu tính cho lao động nông nghiệp thì có 1.146 m2/lao động nông nghiệp.

Biểu 1 : Hiện trạng sử dụng đất huyện Yên Lạc

(Số liệu năm 2003) 

 

Diện tích (Ha) 

Cơ cấu (%) 

Tổng diện tích tự nhiên

10.672,24

100,00

trong đó :

 

 

1. Đất nông nghiệp

7.746,63

72,59

2. Đất lâm nghiệp

-

-

3. Đất chuyên dùng

1.598,78

14,98

4. Đất ở

634,67

5,95

5. Đất ch­ưa sử dụng

692,12

6,48

 Hệ số sử dụng đất nông nghiệp của Yên Lạc rất cao, lên đến 2,45 lần trong những năm 2000-2004. Có thể nói, với hệ số quay vòng đất ở mức độ này, không thể nâng cao hơn nữa hệ số sử dụng đất nông nghiệp. Vì vậy, để tiếp tục nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm tăng trưởng sản xuất nông nghiệp cần thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng đưa vào sử dụng những loại giống cây trồng và vật nuôi mới có giá trị cao và năng suất cao. 

Hầu hết đất của Yên Lạc là đất phù sa Sông Hồng, có độ phì cao, thích hợp và rất tốt cho nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây lương thực, rau, đậu thực phẩm và cây ăn quả.

3. Tài nguyên thiên nhiên

3.1. Tài nguyên khoáng sản.

Cho đến nay trên lãnh thổ huyện chưa phát hiện loại tài nguyên khoáng sản nào. Tài nguyên đáng kể nhất là đất sét chất lượng tốt làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng.

3.3. Tài nguyên nước

Nguồn nước mặt rất phong phú, gồm có nguồn nước từ Sông Hồng và các đầm, ao, hồ phân bố rải rác khắp các xã trong huyện.

Nước ngầm : chưa có tài liệu thăm dò, đánh giá cụ thể. Đã tiến hành khoan thăm dò thử nguồn nước ngầm ở địa bàn các xã Bình Định, Trung Nguyên. Kết quả sơ bộ cho thấy nguồn nước ngầm phong phú, chất lượng tốt. Trên thực tế, nhân dân đang sử dụng nguồn nước ngầm khoan ở độ sâu trên 10-20 mét để phục vụ nhu cầu sinh hoạt (nước sạch) của nhân dân.

3.4. Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn

Tài nguyên du lịch văn hoá, lịch sử và nhân văn khá phong phú. Trên địa bàn huyện có 46 di tích lịch sử văn hoá được Nhà nước xếp hạng, trong đó có 11 di tích cấp quốc gia. Những di tích nổi tiếng có ý nghĩa lớn đối với phát triển du lịch và các hoạt động văn hoá là khu Di chỉ Văn hoá Đồng Đậu (bằng chứng về người Việt cổ thời kỳ hậu đồ đá ở Việt Nam), Đền thờ Bắc Cung thờ Đức Thánh Tản Viên. Những lễ hội truyền thống của các làng, trong đó nổi tiếng nhất là Lễ hội Đền Thích được tổ chức đều đặn hàng năm không chỉ có tác dụng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần của nhân dân, gìn giữ và phát huy truyền thống lịch sử của địa phương, mà còn là những sự kiện văn hoá dân gian hấp dẫn thu hút các nhà nghiên cứu và khách du lịch. 
Các tin đã đưa ngày: