Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2013

23/07/2013

            I. TÌNH HÌNH KINH TẾ

            1. Về tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) sáu tháng đầu năm 2013 theo giá so sánh 2010 đạt 20.919 tỷ đồng, tăng 8,19% so cùng kỳ năm 2012. Giá trị tăng thêm theo giá so sánh 2010 của các ngành dịch vụ đạt 4.347,6 tỷ đồng, tăng 7,42% so cùng kỳ năm 2012, đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là 1,55 điểm %. Thu từ hải quan sáu tháng đầu năm dự kiến đạt 1.311 tỷ đồng, so với cùng kỳ giảm 26,73%; theo giá so sánh 2010 đạt 739 tỷ đồng, giảm 30,22% so với cùng kỳ, làm giảm mức tăng trưởng chung của tỉnh là 1,65 điểm %.
           2. Sản xuất Nông, Lâm nghiệp và Thuỷ sản
            a) Sản xuất Nông nghiệp
+ Trồng trọt:
- Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 62,6 ngàn ha, tăng 5,73% so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích gieo trồng lúa là 30,9 ngàn ha, vượt 1,58% kế hoạch vụ và giảm 0,50% so cùng kỳ; ngô đạt 14,2 ngàn ha, tăng 16,94%; khoai lang đạt 2,3 ngàn ha, giảm 3,02%; rau các loại đạt 6 ngàn ha, 24,13% so cùng kỳ năm trước...
- Năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu: Năng suất lúa đông xuân 2013 sơ bộ đạt 60,04 tạ/ha, tăng tăng 1,08% so với cùng kỳ, sản lượng đạt 185,5 ngàn tấn, tăng 0,57% so cùng kỳ. Vụ đông xuân năm nay đầu vụ ít mưa đã ảnh hưởng một phần đến sinh trưởng và phát triển của cây lúa, tuy nhiên khi lúa sắp trỗ thời tiết có mưa rất phù hợp cho cây lúa phát triển, sâu bệnh ít, công tác thủy nông được đảm bảo nên kết quả đạt khá và là vụ được mùa nhất từ trước đến nay; ngô đạt 41,46 tạ/ha, giảm 1,75% so với cùng kỳ, sản lượng đạt 59,1 ngàn tấn, tăng 14,89%; khoai lang đạt 98,97 tạ/ha, tăng 4,43%, sản lượng đạt 22,6 ngàn tấn, tăng 1,31% so với cùng kỳ; rau các loại đạt  188,50 tạ/ha, tăng 2,47% , sản lượng đạt 113,6 ngàn tấn, tăng 27,21% so cùng kỳ...
+ Chăn nuôi:
Kết quả cụ thể một số gia súc gia cầm chủ yếu tại thời điểm 01/4/2013 như sau : Tổng số trâu hiện có là 21.155 con, giảm 1,31% so với cùng thời điểm năm 2012; số bò hiện có 93.314 con, giảm 0,80%, trong đó bò sữa hiện có 2.730 con, tăng 6,97% so cùng thời điểm năm 2012; tổng số lợn (không tính lợn sữa) hiện có 490.130 con, giảm 0,64%; tổng số gà có 7.108,5 ngàn con, tăng 3,07% so với cùng thời điểm năm 2012.
            b) Sản xuất Lâm nghiệp
Dự kiến sáu tháng đầu năm 2013, các đơn vị có sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh trồng đ­ược 730 ha rừng tập trung, đạt 72,9% kế hoạch năm, tăng 26,52% so với cùng kỳ năm trước, trong đó toàn bộ là rừng sản xuất. Tiến độ trồng rừng sáu tháng đầu năm theo Dự án hỗ trợ trồng rừng sản xuất của tỉnh chậm, mới thực hiện được 70% kế hoạch.
Diện tích rừng đ­ược chăm sóc lần 1 dự kiến sáu tháng đầu năm đạt 592 ha, bằng 100% kế hoạch, giảm 19,57% so với cùng kỳ. Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ 9.522 ha, đạt 100% kế hoạch, tăng 108,5% so với cùng kỳ do Vườn quốc gia Tam Đảo năm 2013 được giao kế hoạch bảo vệ tăng nhiều.
c) Sản xuất Thuỷ sản
Diện tích nuôi trồng thuỷ sản sáu tháng đầu năm đạt 5.246 ha, giảm 0,73% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm là do ở một số huyện có diện tích nuôi trồng lớn như: Yên Lạc, Vĩnh Tường có dự án mở rộng đường trên đê đã làm giảm một số diện tích nuôi trồng.
Hiện nay giá thuỷ sản trên thị trường khá ổn định và có lợi cho người nuôi trồng nên các hộ đã tích cực nuôi thả và tập trung thâm canh nhằm tăng năng suất, sản lượng trong nuôi trồng thuỷ sản. Sản lượng thuỷ sản sáu tháng đầu năm dự kiến đạt 8.828 tấn, tăng 5,02% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng thuỷ sản khai thác đạt 902 tấn, giảm 0,42% so với cùng kỳ; sản lượng thuỷ sản nuôi trồng đạt 7.926 tấn, đạt 48,33% kế hoạch năm và tăng 5,68% so với cùng kỳ. Sản xuất giống thuỷ sản sáu tháng đầu năm dự kiến đạt 1.921 triệu con, tăng 0,84% so với cùng kỳ, đáp ứng đủ cho nhu cầu nuôi trồng thủy sản trên địa bàn và một số tỉnh lân cận.
           3. Sản xuất Công nghiệp
Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 6 năm 2013, ngành công nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Song, do các doanh nghiệp trong ngành đã chủ động khai thác thị trường tiêu thụ sản phẩm, đơn đặt hàng, đồng thời áp dụng các giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất nên sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn giữ được mức ổn định và phát triển khá so cùng kỳ năm trước.
Dự kiến sáu tháng đầu năm 2013, chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng 19,96% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo ngành kinh tế cấp I: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 94,10%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,89%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 16,63%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 10,88%. Tình hình cụ thể từng ngành như sau:
Các đơn vị công nghiệp trên địa bàn tỉnh dự kiến sáu tháng đầu năm 2013, các đơn vị sản xuất công nghiệp trên địa bàn sản xuất được 101.207 m3 đá các loại, tăng 71,5% so với cùng kỳ; 8.189 tấn chè các loại, tăng 5,92%; 70.190 tấn thức ăn gia súc, tăng 1,39%; 21.682 ngàn quần áo mặc thường, tăng 12,04%; 32.782 ngàn m2 gạch ốp lát, tăng 22,45%; 409.467 ngàn viên gạch xây dựng bằng đất sét, giảm 8,38%; 14.809 xe ô tô các loại, tăng 23,99%; 1.203.288 xe máy các loại, tăng 22,27%...
           4. Đầu tư - Xây dựng
Công tác phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2013 có nhiều đổi mới, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn có liên quan thực hiện nghiêm Chỉ thị 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011, Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ, theo hướng đầu tư dứt điểm, có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, hạn chế tối đa các dự án khởi công mới và phân khai sau nên số công trình, dự án được phân bổ giảm đáng kể so với cùng kỳ những năm trước.
Công tác thu hút đầu tư có những chuyển biến tích cực, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo quyết liệt công tác xúc tiến đầu tư, kể cả xúc tiến đầu tư tại chỗ; tập trung cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp. Kết quả, sáu tháng đầu năm 2013, đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 20 dự án. Gồm: 13 dự án DDI, với số vốn đầu tư đăng ký là 2.751,1 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 8,3% về dự án, tăng 464,5% về vốn đăng ký, so với kế hoạch đạt 43,3% về dự án, đạt 183,4% về vốn đăng ký; và 07 dự án FDI, với tổng vốn đầu tư 232,6 triệu...
Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn sáu tháng đầu năm dự kiến đạt 6.683 tỷ đồng. Trong đó, nguồn vốn Nhà nước trên địa bàn đạt 2.109 tỷ đồng; vốn ngoài Nhà nước 4.547, trong đó vốn của các tổ chức doanh nghiệp đạt 564 tỷ đồng, vốn đầu tư của dân cư đạt 3.983 tỷ đồng.

             5. Tài chính, tín dụng 

+ Thu chi ngân sách: Tổng thu ngân sách trên địa bàn sáu tháng đầu năm 2013, thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt kết quả cao, dự kiến đạt 8.050,6 tỷ đồng, bằng 50% dự toán năm và tăng 25,42% so với cùng kỳ. Trong tổng số, thu nội địa đạt 6.654 tỷ đồng, bằng 56% dự toán năm, tăng 47,23% so cùng kỳ, trong đó thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 5.684 tỷ đồng, tăng 47,60% so cùng kỳ, chiếm 85,42% số thu nội địa và chiếm 70,60% tổng thu ngân sách trên địa bàn. Tổng chi ngân sách đáp ứng kịp thời nhiệm vụ chi của tỉnh, dự kiến sáu tháng đầu năm tổng chi ngân sách địa phương đạt 4.936 tỷ đồng, đạt 59,4% so dự toán HĐND giao, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2012.
+ Tín dụng: Đến hết 31/5/2013, tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 19.631 tỷ đồng, giảm 1,36% so cuối năm 2012. Trong đó, tiền gửi tiết kiệm đạt 11.052 tỷ đồng, tăng 17,80; tiền gửi của các tổ chức kinh tế đạt 8.041 tỷ đồng, giảm 17,86% so với cuối năm 2012. Tổng dư nợ cho vay đến hết 31/5/2013 đạt 21.173 tỷ đồng, giảm 3,42% so cuối năm 2012, trong đó dư nợ ngắn hạn giảm 4,96%, dư nợ trung và dài hạn tăng 1,65%...
           6. Thương mại, dịch vụ và giá cả
            a. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tình hình kinh doanh thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh sáu tháng đầu năm ổn định, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng, vật tư hàng hoá đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trên thị trường. Dự kiến tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ sáu tháng đầu năm 2013 đạt 15.193,7 tỷ, tăng 19,19% so cùng kỳ năm 2012. Trong đó kinh tế nhà nư­ớc thực hiện đạt 38,3 tỷ đồng, giảm 62,95%; kinh tế tập thể 21,3 tỷ, tăng 18,89%; kinh tế cá thể 10.644,4 tỷ, tăng 15,88%; kinh tế tư nhân 4.478,2 tỷ, tăng 30,39%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 11,5 tỷ, tăng 77,46% so cùng kỳ năm 2012. Phân theo ngành kinh tế, sáu tháng đầu năm ngành thương nghiệp thực hiện 13.334,1 tỷ đồng, tăng 27,06% so với cùng kỳ; dịch vụ lưu trú 55,57 tỷ, tăng 9,94%; dịch vụ ăn uống 1.467 tỷ đồng, giảm 20,94%; du lịch lữ hành 3,56 tỷ, tăng 2,22 lần; và các ngành dịch vụ khác còn lại thực hiện 333,4 tỷ, giảm 3,78% so cùng kỳ.
            b. Xuất, nhập khẩu hàng hoá
Các đơn vị sản xuất kinh doanh tham gia xuất nhập khẩu đã tiếp tục mở rộng được thị trường, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng khá. Tổng kim ngạch xuất khẩu sáu tháng đầu năm dự kiến đạt 395.795 ngàn USD tăng 35,93% so cùng kỳ năm trước. Trong đó kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt 348.395 ngàn USD, tăng 35,39%; kinh tế trong nước 47.400 ngàn USD, tăng 40,02% so với cùng kỳ. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tăng khá so cùng kỳ là: hàng điện tử đạt 88.203 ngàn USD, tăng 1,72 lần; chè 17.923,3 ngàn USD, tăng 21,29%; hàng dệt may 98.958 ngàn USD, tăng 23,67%; xe máy 138.898 chiếc, tăng 13,6.%.
Tổng kim ngạch nhập khẩu sáu tháng đầu năm dự kiến đạt 790.497 ngàn USD, tăng 24,33% so với cùng kỳ năm trư­ớc. Trong đó kinh tế Nhà nước nhập 1.293 ngàn USD, giảm 27,28%; kinh tế tư nhân đạt 109.136 ngàn USD bằng 2,32 lần; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 680.067 ngàn USD, tăng 15,88% so với cùng kỳ năm trước. Hàng nhập khẩu chủ yếu là các nguyên vật liệu để gia công sản xuất như: linh kiện, phụ tùng ô tô, xe máy, sắt thép, vải may mặc, hàng điện tử.
c. Vận tải hành khách và hàng hoá
Sáu tháng đầu năm vận tải hàng hoá vận chuyển đạt 13.248 ngàn tấn, luân chuyển 928 triệu tấn.km, tăng 13,91% về tấn và tăng 15,70% về tấn.km so với sáu tháng đầu năm 2012. Khối l­ượng hành khách vận chuyển đạt 11.186 ngàn người, luân chuyển 638 triệu người.km, giảm 9,97% về người và giảm 11,20% về người.km so với cùng kỳ năm 2012. Nguyên nhân giảm là do số lượng phương tiện vận tải hành khách trong các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ cá thể ngừng hoặc không hoạt động vận tải hành khách, một số đơn vị, hộ cá thể đã chuyển hoạt động sang lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác khác.
Tổng doanh thu dịch vụ vận tải sáu tháng đầu năm dự kiến đạt 1.322 tỷ đồng, tăng 16,59% so cùng kỳ. Trong đó, vận hành khách đạt 340 tỷ đồng, tăng 3,41%; vận tải hàng hoá đạt 979 tỷ đồng, tăng 21,81%..
            d. Chỉ số giá tiêu dùng
Tháng Sáu năm 2013, giá cả hàng tiêu dùng trên địa bàn tỉnh ổn định và có mức tăng nhẹ. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Sáu tăng 0,09% so với tháng trước và tăng 10,17% so cùng kỳ năm trước. Bình quân sáu tháng đầu năm CPI tăng 5,52% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng thấp hơn so với năm 2012 (+17,30%) cho thấy công tác bình ổn giá trên địa bàn toàn tỉnh tiếp tục đạt được kết quả tốt. Hàng hoá tiêu dùng đa dạng, đáp ứng tương đối đầy đủ nhu cầu của nhân dân, giá cả phần lớn không có nhiều biến động.
          II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
           1. Công tác giải quyết lao động, việc làm, bảo đảm an sinh xã hội
            Công tác giải quyết việc làm cho người lao động được UBND tỉnh chỉ đạo quyết liệt nhưng vẫn còn nhiều khó khăn. Sáu tháng đầu năm, giải quyết việc làm cho khoảng 10 ngàn lao động, đạt 48,5% so với kế hoạch. Đã tổ chức 10 phiên giao dịch việc làm và tuyển tại sàn được 697 lao động.
Hoạt động bảo trợ xã hội và giảm nghèo được quan tâm, đến hết tháng Năm có 1.205 người được hưởng trợ cấp thất nghiệp (giảm 202 người so với cùng kỳ năm 2012), với tổng số tiền trên 8 tỷ đồng; có 1.110 lượt người thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm và 45 người thất nghiệp được hỗ trợ học nghề; cấp thẻ bảo hiểm y tế cho: 40.000 người có công, cựu chiến binh, thanh niên xung phong, 78.368 người nghèo và 38.417 người cận nghèo trên địa bàn tỉnh; đã cấp 17.669 giấy chứng nhận hộ nghèo năm 2013 (giảm 5.012 hộ so với cùng kỳ năm 2012) và hỗ trợ 1,59 tỷ đồng tiền điện cho 17.669 hộ nghèo theo đúng quy định.

          2. Các hoạt động văn hoá và thể thao

Đã tổ chức các Đội chiếu bóng lưu động phục vụ các xã miền núi và khu vực nông thôn, tổ chức kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ về thăm tỉnh Vĩnh Phúc ... Đặc biệt, tỉnh đã tổ chức thành công Tuần Văn hoá - Du lịch Vĩnh Phúc năm 2013 theo hướng tiết kiệm và hiệu quả, thu hút được sự quan tâm, hưởng ứng của đông đảo quần chúng nhân dân trong và ngoài tỉnh, với nhiều chủ đề, hoạt động có ý nghĩa như: tổ chức Lễ dâng hương tưởng niệm 584 năm ngày mất của anh hùng dân tộc - Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn; Lễ khai mạc Tuần Văn hoá - Du lịch và hưởng ứng năm du lịch Quốc gia Đồng bằng Sông Hồng 2013; tổ chức Khai mạc lễ hội Tây Thiên; Triển lãm “Vĩnh Phúc - 50 năm làm theo lời Bác dạy”; Triển lãm xúc tiến du lịch và hội chợ các tỉnh Đồng bằng sông Hồng; tổ chức liên hoan hát Văn, hát chầu văn các tỉnh đồng bằng Sông Hồng với sự tham gia của 10 tỉnh, thành phố trong vùng ...

            3. Giáo dục và đào tạo

Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên tiếp tục được chuẩn hoá. Chất lượng giáo dục được nâng lên vững chắc, tổng kết năm học 2012–2013, toàn tỉnh có 1.329 học sinh bậc THPT đạt giải học sinh giỏi cấp tỉnh chiếm 55,8% tổng số học sinh tham dự; 62/73 học sinh lớp 12 đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, chiếm 84,9% so tổng số học sinh dự thi; đặc biệt có 02 học sinh được chọn tham gia kỳ thi Olympic quốc tế năm 2013 tại Thụy Sỹ và Colombia. Học sinh Vĩnh Phúc tham gia tất cả các sân chơi trí tuệ của Quốc gia, khu vực và đều đạt giải cao. Kỳ thi tốt nghiệp bậc THPT và bổ túc THPT năm học 2012–2013 được tổ chức nghiêm túc, an toàn theo đúng quy định. Đã tổ chức thành công kỳ thi Olympic Toán tuổi thơ toàn quốc lần thứ IX, với kết quả chung cuộc đoàn Vĩnh Phúc xếp thứ 2 toàn quốc, đạt 21 huy chương (gồm: 5 Huy chương Vàng, 9 Huy chương Bạc và 7 Huy chương Đồng đối với giải cá nhân; 1 Cúp Vàng, 1 Cúp Bạc và 1 Cúp đồng ở phần thi tiếp sức đồng đội).
          4. Y tế
           Công tác thanh tra, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm được duy trì thường xuyên, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán. Tính đến hết tháng 5/2013 đã tổ chức kiểm tra 2.854 cơ sở, trong đó số cơ sở đạt tiêu chuẩn chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm là 1.903, đạt 66,7%; xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm..
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc
Các tin đã đưa ngày: