Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và sinh sản của đàn gà Ross 308 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

06/08/2009

Trên địa bàn tỉnh, trong giai đoạn vừa qua giống Ross 308 được một số gia đình đưa vào nuôi. Đây là giống gà chuyên thịt có năng suất cao trên thế giới, thời gian nuôi ngắn, tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn trên đơn vị sản phẩm thấp. Tuy nhiên việc đưa giống gà mới vào nuôi trên địa bàn tỉnh chưa có sự theo dõi cũng như đánh giá tính thích nghi, khả năng sinh trưởng, sinh sản và hiệu quả kinh tế. Việc triển khai đề tài đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và sinh sản của đàn gà Ross 308 nuôi trên địa bàn tỉnh của Trung tâm Giống gia súc gia cầm Vĩnh Phúc là rất cần thiết, làm cơ sở cho các cơ quan chuyên môn định hướng phát triển và khuyến cáo cho hộ nông dân. Qua thời gian nghiên cứu đề tài đã thu được một số kết quả sau:

1. Kết quả theo dõi khả năng sinh trưởng, phát triển của gà Ross 308 bố mẹ.

1.1. Đặc điểm về ngoại hình:

Gà Ross 308 có ngoại hình của giống gà chuyên thịt, thân hình cân đối, ngực sâu rộng, chân chắc, ức phát triển, có thiết diện vuông. Qua quan sát gà từ giai đoạn gà 1 ngày tuổi thấy gà Ross 308 mới nở có màu lông trắng, chân và mỏ có màu vàng nhạt, trong quá trình nuôi có thể phân biệt con trống, mái bằng tốc độ mọc lông. Gà trưởng thành có màu lông trắng tuyền, mào cờ, tích tai phát triển có màu đỏ tươi, da và chân màu vàng nhạt. Đàn gà bố mẹ Ross 308 nuôi thử nghiệm tại Trung tâm có ngoại hình, màu sắc đặc trưng của giống không thấy xuất hiện các đặc điểm khác lạ.

1.2. Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn hậu bị (sơ sinh đến 24 tuần tuổi):

Tỷ lệ nuôi sống của gà Ross 308 giai đoạn hậu bị đạt tỷ lệ nuôi sống cao. ở 24 tuần tuổi gà mái đạt tỷ lệ 92,86%, gà trống đạt 93,50%. Theo tài liệu của hãng, tỷ lệ nuôi sống của gà Ross 308 là 90%, thì kết quả nuôi thử nghiệm là cao hơn.

So với một số giống gà màu nuôi tại Trung tâm như: Lương phượng, Kabia đạt tỷ lệ nuôi sống 95% thì kết quả đề tài thấp hơn. Sở dĩ như vậy là do các giống gà Lương phượng, Kabia là các giống gà địa phương, khả năng thích nghi cao hơn các giống gà cao sản nhập nội điều này là hoàn toàn phù hợp.

So sánh với kết quả nghiên cứu của Trung tâm Gia cầm Thuỵ Phương thì tỷ lệ nuôi sống của đàn gà Ross 308 tại Trung tâm Giống GSGC là tương đương nhau.

Tỷ lệ nuôi sống của gà trống là 93,50% cao hơn gà mái 92,86%, điều này có thể giải thích: Do số lượng gà trống ít (200 con) nuôi riêng do vậy thuận lợi hơn cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng và phát hiện bệnh tật hàng ngày, vì vậy số gà hao hụt ít hơn so với gà mái.

ở giai đoạn 6 tuần tuổi tỷ lệ nuôi sống của gà Ross 308 đạt 94% - 95% là tương đối cao và tương đương với các giống gà màu địa phương. Đây là thời điểm rất quan trọng để đánh giá khả năng thích nghi của gà vì đây là giai đoạn chuyển loại thức ăn, đồng thời cơ thể chưa có khả năng thích nghi cao, sức đề kháng thấp.

Từ kết quả theo dõi cho thấy đàn gà Ross 308 nuôi tại Trung tâm Giống GSGC trong điều kiện chuồng trại đảm bảo vệ sinh thú y, chăm sóc nuôi dưỡng theo đúng quy trình của giống cho tỷ lệ sống cao, điều đó chứng tỏ gà Ross 308 hoàn toàn có khả năng thích nghi với điều kiện nhiệt độ thời tiết khí hậu của Vĩnh Phúc.

1.3. Khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi:

Khối lượng của đàn gà tăng dần qua các tuần tuổi. Khối lượng gà trống thí nghiệm ở tất cả các tuần tuổi đều cao hơn khối lượng gà mái, sự chênh lệch này phù hợp với đặc điểm của giống. Vì gà trống có khả năng tăng trọng nhanh hơn, khối lượng trưởng thành lớn hơn. Khối lượng của gà trống thí nghiệm qua các tuần tuổi tương đương với khối lượng của hãng đưa ra. Khối lượng gà mái thí nghiệm cao hơn khối lượng gà mái của hãng đặc biệt ở giai đoạn 14 tuần tuổi khối lượng gà mái thí nghiệm là 1690 g, khối lượng gà mái của hãng là 1430 g. Sự chênh lệch này có thể do nhiệt độ môi trường trong khoảng thời gian này ở mức trung bình, thích hợp cho gà sinh trưởng, gà không phải tiêu hao năng lượng để duy trì thân nhiệt và sử dụng thức ăn hiệu quả hơn.

1.4. Sinh trưởng tuyệt đối:

Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm tăng dần theo tuần tuổi, từ tuần tuổi 1 - 8 và đạt đỉnh cao nhất từ tuần tuổi thứ 5 - 8, con trống đạt 25,71 g/con/ngày, con mái đạt 21 g/con/ngày. Đây là giai đoạn phát triển mạnh của gà và cũng là giai đoạn nhạy cảm với các bệnh. Nên lượng thức ăn cung cấp cho gà ở giai đoạn này tăng nhằm nâng cao sức đề kháng.

Giai đoạn từ 8 - 24 tuần tuổi lượng thức ăn cho gà giai đoạn này bị hạn chế nhằm đạt được khối lượng chuẩn khi gà vào đẻ giai đoạn này sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm giảm dần.

Sinh trưởng tuyệt đối của gà nuôi thí nghiệm từ 1 - 24 tuần tuổi là rất tốt. Tuy nhiên đây là giống gà cao sản nên yếu tố ngoại cảnh có tác động rất lớn đến sinh trưởng của gà vì vậy có những giai đoạn sinh trưởng tuyệt đối không ổn định.

1.5. Sinh trưởng tương đối:

Sinh trưởng tương đối của gà Ross 308 bố mẹ từ sơ sinh đến 24 tuần tuổi tuân theo quy luật chung của gia súc gia cầm. Sinh trưởng tương đối đạt cao nhất ở giai đoạn sơ sinh - 1 tuần tuổi với con trống là 90,91%, con mái là 100%, sau đó giảm mạnh qua các tuần tuổi.

Sinh trưởng tương đối của gà Ross 308 giảm dần cùng với sự tăng lên về tuổi. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với quy luật sinh trưởng của gia cầm.

1.6. Tiêu thụ thức ăn qua các tuần tuổi:

Lượng thức ăn của gà thí nghiệm tiêu thụ tăng dần qua các tuần tuổi, phù hợp với quy luật sinh trưởng và phát dục của gia cầm.

Gà mái ở tuần tuổi đầu tiên tiêu thụ bình quân 26,80 g/con/ngày, đến tuần tuổi thứ 6 tiêu thụ 50 g/con/ngày. Gà trống tuần tuổi đầu tiên tiêu thụ 37,50 g/con/năm, tuần tuổi thứ 6 tiêu thụ 70 g/con/ngày.

So với chuẩn của hãng thì tiêu tốn thức ăn ở thí nghiệm trong toàn bộ quá trình nuôi giai đoạn hậu bị thấp hơn. Đối với gà trống tiêu tốn 13.969,9 g/con, con mái 11.186,98 g/con, thấp hơn chỉ tiêu của hãng là: Với gà trống 1.098,02 g/con, gà mái 768,10 g/con.

Như vậy, gà khảo nghiệm ăn ít hơn so với chỉ tiêu của hãng đưa ra, nhưng sinh trưởng của gà khảo nghiệm vẫn bình thường. Khối lượng qua các tuần tuổi tăng đều. Tại thời điểm 24 tuần tuổi gà khảo nghiệm có khối lượng tương đương với khối lượng của hãng đưa ra. Điều đó khẳng định quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà Ross 308 bố mẹ giai đoạn hậu bị tại Trung tâm được áp dụng nghiêm ngặt, thức ăn có chất lượng, môi trường khí hậu thuận lợi giúp gà thí nghiệm sử dụng thức ăn hiệu quả hơn.

1.7. Tình hình mắc bệnh và tỷ lệ loại thải của gà Ross 308 giai đoạn hậu bị:

Qua theo dõi tình hình mắc bệnh của gà nuôi thử nghiệm cho thấy số gà chết do mắc bệnh thấp, với gà mái chết 6,07%, gà trống 5,00%. Kết  quả nghiên cứu cho thấy gà Ross 308 thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm ở Việt Nam.

Tỷ lệ loại thải giai đoạn hậu bị thấp, với gà trống 5,2%, gà mái 4,94%, điều này cho thấy tỷ lệ đồng đều của đàn gà Roos 308 nuôi thử nghiệm cao và có chất lượng tốt.

2. Khả năng sinh sản của gà Ross.

2.1. Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên:

Đàn gà Ross 308 nuôi thử nghiệm tại Trung tâm Giống GSGC có tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là 174 ngày, kết quả này tương đương với chỉ tiêu nhà sản xuất đưa ra.

Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên của gà Lương phượng, Sasso nuôi tại Trung tâm Giống GSGC là 20 - 21 tuần tuổi, vậy đối với giống gà Ross 308 có tuổi đẻ quả trứng đầu tiên dài hơn 3 - 4 tuần.

Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên của gà Ross 308 nuôi thử nghiệm phù hợp, không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại cảnh.

2.2. Tỷ lệ đẻ và tỷ lệ trứng loại 1 qua các tuần tuổi:

Ta thấy tỷ lệ đẻ của gà Ross 308 thí nghiệm tăng dần theo tuổi và đạt cao nhất ở tuần tuổi 31 - 37 với tỷ lệ đẻ đạt 84,24%. Thời điểm đạt tỷ lệ đẻ cao muộn hơn so với hướng dẫn của giống. Điều này có thể do điều chỉnh khẩu phần ăn đã trực tiếp ảnh hưởng đến vấn đề này.

Tỷ lệ trứng loại 1 cũng tăng theo tuổi của gà và đạt tỷ lệ cao trên 90%, cao nhất ở tuần tuổi 51 đạt 96,99%, tỷ lệ trứng loại 1 của gà Ross 308 thí nghiệm tại Trung tâm cao hơn theo hướng dẫn của giống.

2.3. Tỷ lệ ấp nở:

Tỷ lệ trứng có phôi của gà thí nghiệm đạt cao (92 - 94%). Kết quả này cao hơn hướng dẫn của giống (85 - 90%). Tỷ lệ nở trung bình đạt 86 - 87%/tổng trứng. Tỷ lệ này thấp hơn tỷ lệ nở của các giống gà màu nuôi tại Trung tâm nhưng tương đương với hướng dẫn của giống.

Tóm lại, đàn gà Ross 308 bố mẹ nuôi tại Trung tâm Giống GSGC cho tỷ lệ nuôi sống cao, gà có tốc độ sinh trưởng nhanh, khối lượng cơ thể lúc vào đẻ: Con trống 3665 g và con mái là 2850 g, tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là 174 ngày, tỷ lệ tăng dần theo tuổi và đạt đỉnh cao ở tuần tuổi 31 - 37, tỷ lệ trứng có phôi đạt từ 85 - 94%, tỷ lệ ấp nở đạt 86 - 87%. Với kết quả các chỉ tiêu trên giống gà Ross 308 bố mẹ nuôi tại Trung tâm cho thấy gà Ross 308 bố mẹ có khả năng thích nghi cao, các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đạt so với chỉ tiêu của giống và hoàn toàn có thể nuôi sinh sản tại Vĩnh Phúc. Chính vì vậy, cần tiếp tục theo dõi đánh giá các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của giống gà Ross 308 thương phẩm nuôi trong nông hộ Vĩnh Phúc để từ đó có cơ sở xây dựng quy trình kỹ thuật chăn nuôi hoàn chỉnh của giống gà này.

BT.CN. Hương Huế