Chỉ thị số: 08-CT/TU ngày 13/10/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ dạy nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo của tỉnh giai đoạn 2011 – 2020

13/10/2011

TỈNH ỦY VĨNH PHÚC

Số: 08-CT/TU

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Vĩnh Yên, ngày 13 tháng 10 năm 2011


CHỈ THỊ
CỦA BAN THƯỜNG VỤ TỈNH UỶ
Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ dạy nghề,
giải quyết việc làm và giảm nghèo của tỉnh giai đoạn 2011 – 2020

 

Đào tạo nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo là nhưng chú trương lớn của Đàng, Nhà nước nhằm nâng cao chất lượng lao động, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Xác định được lầm quan trọng của đào tạo nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo đối với đảm bảo an sinh xã hội, trong những năm qua, tỉnh có nhiều chủ trương, chính sách dạy nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo phù hợp, đi vào cuộc sống, đóng góp quan trọng vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Mạng lưới cơ sở dạy nghề được củng cố và phát triển, cơ sở vật chất đã được đầu tư tương đối đồng bộ. Đến cuối năm 2010, hầu hết lao động nông thôn được bồi dưỡng nâng cao kiến thức và dạy nghề; Tỷ lệ lao động qua đào đạt 50,5% vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đề ra. Cơ bản thực hiện tốt yêu cầu về dạy nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ. 5 năm qua, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho gần 120.000 lao động, trong đó phần lớn là lao động nông thôn. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm từ 18,04% cuối năm 2005 xuống còn 7,7% cuối năm 2010 (theo tiêu chí mới là 11,05%), bình quân mỗi năm giảm trên 2%. Từ năm 2005 đến 2010, toàn tỉnh giảm được 32/39 xã nghèo (theo tiêu chí mới).

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, lĩnh vực dạy nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo còn có những hạn chế sau:

Đào tạo nghề còn nhiều bất cập, chưa đáp ửng yêu cầu phát triển: Quy mô đào tạo, cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa phù hợp; chương trình đào tạo chậm đổi mới, trang, thiết bị dạy nghề lạc hậu, thiếu đồng bộ. Chất lượng đào tạo một số nghề chưa cao. Công tác quản lý về đào tạo nghề còn nhiều hạn chế. Chưa gắn kết chặt chế giữa đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp, trình độ sản xuất của doanh nghiệp và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Chuyển dịch cơ cấu lao động, nhất là lao động ở khu vực nông nghiệp, nông thôn còn chậm. Năm 2010, toàn tỉnh còn 314.000 lao động trong nông nghiệp, chiếm 55,9%. Nhìn chung, người lao động trong các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh việc làm và thu nhập còn thấp và chưa ổn định. Một số doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật đối với người lao động, dẫn đến đình công, lãn công, công nhân không gắn bó với doanh nghiệp. Việc cập nhật thông tin về giải quyết việc làm còn chậm, chưa thường xuyên. Vẫn còn tình trạng lao động thiếu việc làm hoặc gặp khó khăn khi tìm kiếm việc làm.

Kết quá giảm nghèo chưa bền vững, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng nhóm dân cư còn khá lớn, đời sống người nghèo ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc, khu vực nông thôn còn khó khăn; Tiến độ thực hiện chương trình Hỗ trợ lãi suất cho hộ nghèo, hỗ trợ cơ sở hạ tầng cho các xã vùng khó khăn cón chậm.

Để tiếp tục thực hiện tốt công tác dạy nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo tạo bước chuyển biến mới, huy động các nguồn lực đảm bảo an sinh xã hội, đáp ứng mục tiêu phát triển của tỉnh, Ban Thưởng vụ Tỉnh uỷ yêu cầu các cấp uỷ Đảng chính quyền, các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quán triệt, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

1. Đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền trong toàn Đảng và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò, ý nghĩa của nhiệm vụ dạy nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo; về đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực dạy nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo.

2. HĐND, UBND tỉnh rà soát, bổ sung, sửa đổi các cơ chế, chính sách về đào tạo nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo; nghiên cứu xây dựng Đề án về Dạy nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo của tỉnh trong giai đoạn từ 2011 đến 2020, trong đó cần lưu ý đưa ra các giải pháp và có cơ chế chính sách phù hợp với điều kiện và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn hiện nay, đồng thời bố trí nguồn lực phù hợp, tổ chức triển khai thực hiện Đề án có hiệu quả khi được thông qua. Huy động toàn bộ hệ thống chính trị, động viên nhân dân tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ dạy nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo.

3. Về nhiệm vụ cụ thể trong lĩnh vực dạy nghề và giải quyết việc làm

3.1. Tiếp tục thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề theo tinh thần Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 25/2/2008 của Tỉnh ủy về phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đến năm 2015, định hướng 2020; thực hiện có hiệu quả "Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020" được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Làm chuyền biến nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việc bồi dưỡng kiến thức nghề, đào tạo nghề để có cơ hội nâng cao thu nhập từ việc làm đang có, tiếp cận việc làm mới, tạo thu nhập ổn định, thoát nghèo.

3.2. Tăng cường quản lý Nhà nước, đổi mới phương pháp quản lý trong lĩnh vực dạy nghề - giải quyết việc làm. Xây dựng được hệ thống thông tin kết nối từ người lao động đến quan quản lý nhà nước từ xã, huyện, tỉnh; đến cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ sở dạy nghề, doanh nghiệp về nhu cầu dạy nghề, sử dụng lao động, việc làm để điều tiết, chỉ đạo và quản lý hiệu quả công tác dạy nghề, giải quyết việc làm.

3.3. Hằng năm, các huyện, thị, thành phố xây dựng kế hoạch điều tra, khảo sát nhu cầu học nghề của lao động; nhu cầu sử dụng lao động qua đào tạo nghề của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và thị trường lao động trên địa bàn, trên cơ sở đó xác định danh mục nghề đào tạo, xây dựng kế hoạch dạy nghề phù hợp với nhu cầu của người lao động của địa phương và nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp.

3.4. Các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương xây dựng, kế hoạch, chương trình hành động cụ thể để tổ chức thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, xác định rõ nhu cầu sử dụng lao động qua đào tạo nghề phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, từng địa phương. Đưa nội dung công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn vào nội dung sinh hoạt chi bộ hàng tháng.

3.5. Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp các cấp tăng cường vận động các thành viên thuộc tổ chức của mình tham gia học nghề hoặc nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề.

3.6. Nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp và chỉ đạo phân luồng đối với học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông hợp lý để học sinh có thái độ đúng đắn về học nghề và chủ động lựa chọn các loại hình học nghề phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh gia đình.

4. Về lĩnh vực giảm nghèo:

4.1. Triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 – 2020.

4.2. Tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo tiếp cận các nguồn vốn, gắn với việc hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, khuyến công và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất; thực hiện có hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, nhất là hộ có người khuyết tật, chủ hộ là phụ nữ.

4.3. Thực hiện tốt chính sách dạy nghề gắn với giải quyết việc làm cho người lao động, nhất là lao động nghèo, lao động có đất nông nghiệp chuyển đổi sang sử dụng mục đích khác; khuyến khích người nghèo tham gia xuất khẩu lao động.

4.4  Thực hiện có hiệu quả chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ học bổng, trợ cấp xã hội và hỗ trợ chi phí học tập đối với học sinh nghèo ở các cấp học, nhất là bậc mầm non và chính sách tín dụng ưu đãi đối với học sinh, sinh viên, nhất là sinh viên nghèo.

Thực hiện nghiêm túc việc cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế đối với người thuộc hộ cận nghèo và chính sách hỗ trọ việc cung cấp dinh dưỡng cho phụ nữ, trẻ em nghèo ở địa bàn nghèo;

4.5 Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở cho hộ nghèo khu vực nông thôn, miền núi để cải thiện nhà ở, ưu tiên hộ nghèo ở người cao tuổi, người khuyết tật. Xây dựng cơ chế, chính sách của địa phương để hỗ trợ nhà ở đối với người nghèo ở đô thị trên cơ sở huy động nguồn lực của cộng đồng, gia đình, dòng họ;

4.6 Tổ chức thực hiện tốt chương trình đưa văn hóa, thông tin về cơ sở; đa dạng hóa các hoạt động truyền thông, giúp người nghèo tiếp cận các chính sách giảm nghèo, phổ biến các mô hình giảm nghèo có hiệu quả, gương thoát nghèo.

Ban Thường  vụ Tỉnh ủy giao Ban cán sự Đảng UBND tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra tổ chức thực hiện Chỉ thị, định kỳ tổng hợp, báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy theo quy định.

Chỉ thị này được phổ biến đến các chi bộ đảng./.

 

TM. BAN THƯỜNG VỤ
PHÓ BÍ THƯ

(đã ký)

Nguyễn Thế Trường