Báo cáo Số 174/BC-CCB của Hội CCB Vĩnh Phúc về tổng kết thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2005 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2006

03/07/2006

HỘI CCB VIỆT NAM
HỘI CCB VĨNH PHÚC

Số 174-BC/CCB

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Vĩnh yên, ngày 12 tháng 01 năm 2006

BÁO CÁO
TỔNG KẾT THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CÔNG TÁC NĂM 2005
PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ NĂM 2006

  

PHẦN THỨ NHẤT
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CÔNG TÁC NĂM 2005

  

I/-ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH THUẬN LỢI- KHÓ KHĂN:

+ Thuận lợi: Năm 2005 có nhiều ngày kỷ niệm lớn của đất nước: 75 năm thành lập Đảng CSVN; 30 năm giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc; 60 năm cách mạng tháng 8 và quốc khánh 2-9; 115 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh; 55 năm thành lập tỉnh Vĩnh Phúc. Đặc biệt là có đại hội Đảng các cấp Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ 14 tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X

Tình hình chính trị trong nước, trong tỉnh ổn định, kinh tế tăng trưởng ở mức cao trong khu vực. Năm 2005 là năm kết thúc kế hoạch 5 năm 2001-2005 của Nhà nước. Chính phủ quyết định nâng lương cho các đối tượng hưởng thụ từ Ngân sách nhà nước, đời sống của nhân dân và CCB được cải thiện

Hội CCB tỉnh sau 16 năm thành lập, đặc biệt là sau ngày tái lập tỉnh: tổ chức Hội ngày càng mở rộng, đội ngũ hội viên có số lượng động, chất lượng tốt, biên chế cán bộ luôn ổn định, hoạt động của Hội ngày càng có chiều sâu, hiệu quả.

Đó là những thuận lợi cơ bản cho Hội thực hiện nhiệm vụ.

+ Khó khăn: Thiên tai khắc nghiệt; hạn hán kéo dài, lũ lụt gây thiệt hại nặng nề 1 só nơi trong nước và trong tỉnh. Dịch cúm gia cầm tái phát có nguy cơ thành đại dịch, tình hình giá cả các mặt hàng đều tăng cao, ảnh hưởng trực tiếp đời sống nhân dân. Tệ nạn tiêu cực xã hội diễn biến phức tạp, đang là nỗi bức  xúc trong nhân dân và CCB. Các thế lực thù địch ráo riết tiến hành phá hoại CM Việt Nam, chúng tập trung phá Đại hội X của Đảng ta, nhất là trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.

Song dưới sự lãnh đạo thường xuyên trực tiếp của Tỉnh uỷ và các cấp uỷ Đảng, sự giúp đỡ của các cấp chính quyền, được sự chỉ đạo và hướng dẫn thấu đáo của TW Hội CCBVN, cán bộ hội viên CCB trong tỉnh đã đoàn kết, phấn đấu, vượt khó thực hiện thắng lợi toàn diện các nhiệm vụ của Hội, cụ thể như sau:

II/-KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CÔNG TÁC HỘI NĂM 2005.

1- Nắm vững và thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu là tham gia góp phần vào: thành công Đại hội Đảng các cấp, thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở, giữ ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Các cấp Hội đã tổ chức học tập, quán triệt, phổ biến chỉ thị 46 của Ban bí thư TW Đảng; hướng dẫn số 47 của TW Hội CCB Việt Nam, kế hoạch số 80 của tỉnh uỷ Vĩnh Phúc về “Đại hội Đảng các cấp” đến hầu hết HV CCB trong tỉnh. Theo sự chỉ đạo của cấp uỷ, Hội và hội viên tích cực tham gia đóng góp ý kiến vào văn kiện đại hội, công tác nhân sự tham gia bảo vệ an toàn tuyệt đối cho đại hội Đảng các cấp. Nhìn chung các ý kiến của hội viên CCB là tâm huyết, có ý thức xây dựng và trách nhiệm, nên được cấp uỷ đánh giá cao. Đại hội Đảng vừa qua hội viên CCB là cán bộ đương nhiệm, cán bộ Hội trúng cử vào BCH Đảng bộ các cấp như sau: cấp cơ sở là: 56,84%; cấp huyện, thị xã là: 38,69% cấp tỉnh là 28,57%. Đây là sự tín nhiệm của Đảng đối với hội viên CCB và Hội CCB.

Hội tích cực tham gia thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đóng góp nhiều ý kiến với chính quyền để thực hiện nghị định chính phủ, tham gia xây dựng làng xã văn hoá, khu dân cư, cơ quan văn hoá, gương mẫu thực hiện các chương trình kinh tế xã hội của địa phương.

Hội phối hợp với Công an tham gia phòng chống tội phạm - tệ nạn xã hội đã cung cấp thông tin có giá trị và trực tiếp tham gia triệt xoá 12 vụ liên quan đến ma tuý, 2 vụ cờ bạc, 1 vụ mại dâm, cảm hoá 34 thanh niên hư nay nay làm ăn lương thiện, hoà giải thành công 514 vụ mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Năm 2005 không có con hội viên nghiện ma tuý và hoạt động mại dâm.

Trong kỳ tuyển quân, các cấp Hội nhất là cơ sở đã chủ động phối hợp với cơ quan quân sự tuyên truyền và vận động thanh niên thực hiện tốt Luật nghĩa vụ quân sự, sẵn sàng lên đường nhập ngũ. Tổ chức đến thăm hỏi, động viên, tặng quà tân binh trị giá gần 20 triệu đồng, góp phần hoàn thành chỉ tiêu về số lượng và chất lượng giao quân. Tham gia làm tốt công tác giáo dục quốc phòng và diễn tập khu vực phòng thủ, huấn luyện quân sự cho hàng ngàn học sinh, dân quân địa phương. ở một số địa phương giải phóng mặt bằng thu hút đầu tư công nghiệp có  phức tạp. BCH Hội các cấp đã vận động hội viên gương mẫu thực hiện theo chủ trương của cấp uỷ, chính quyền, đồng thời phản ảnh kịp thời tâm tư, nguyện vọng chính đáng của Hội viên và nhân dân, đề xuất giải pháp với cấp uỷ, chính quyền giữ ổn định tình hình, không để sảy ra điểm nóng. Hoạt động của Hội đã góp phần giữ ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội địa phương.

2- Đẩy mạnh phong trào phát triển kinh tế, nâng cao đời sống tinh thần, vật chất, bảo vệ quyền lợi chính đáng hợp pháp của CCB. Tích cực tham gia các cuộc vận động, các phong trào của địa phương.

            Hội tích cực vận động hội viên đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, xoá nhanh hộnghèo, tăng hộ giàu và khá. Tập trung giải quyết 3 vấn đề là: vốn, kỹ thuật và chuyển đổi ngành nghề, chú trọng vùng sâu, vùng miền núi, nơi có nhiều khó khăn về nước, nơi có dịch cúm gia cầm...

Về vốn đã phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng CSXH tín chấp cho hội viên nay được 10 tỷ 103 triệu đồng. Vận động hội viên góp vốn tương trợ nhau sản xuất, kinh doanh dược 1 tỷ 150 triệu đồng. Huy động từ quĩ Hội cho hôi viên vay trong năm thêm 829 triệu, tổng số vốn vay từ các kênh trong năm được trên 12 tỉ đồng, giúp 6.841 hộ hội viên đầu tư cho sản xuất.

- Về kỹ thuật: Hội phối hợp với ngành nông nghiệp mở được 32 lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt cho gần 2000 hội viên. Tổ chức 33 buổi tham quan đầu bờ các mô hình sản xuất hiệu quả cao để trao đổi kinh nghiệm.

- Trước những yêu cầu mới, đặc biệt là các nơi giao đất làm công nghiệp, vùng hạn hán nặng, vùng có dịch cúm gia cầm... Hội vận động hội viên mạnh dạn chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi mở rộng hoạt động kinh doanh, dịch vụ làm hàng thủ công, thích hợp, nên vừa qua đời sống hội viên CCB cơ bản được ổn định, không có hiện tượng tái đói, tái nghèo, nhiều hộ phát triển tốt.

Tỉnh Hội tổ chức hội nghị sơ kết 3 năm sản xuất kinh doanh giỏi (2002-2005) phát động phong trào thi đua sản xuất kinh doanh giỏi 2005-2007 qua sơ kết từ 2002 đến 2005, với sự nỗ lực rất lớn, Hội đã hạ tỉ lệ nghèo từ 3,59% còn 0,66%, số khá giàu tăng từ 52,25% lên 57,92% theo tiêu chí cũ, như vậy Hội đã hoàn thành chỉ tiêu Đại hội CCB tỉnh nhiệm kỳ III đề ra. Qua phong trào xuất hiện nhiều điển hình làm kinh tế giỏi, có thu nhập cao, thu hút nhiều lao động. Toàn tỉnh có 3.721 hộ hội viên sản xuất giỏi theo tiêu chí của TW Hội. Trong đó có 21 hộ đạt mức giỏi toàn quốc, với mức thu nhập từ 150 triệu đến 500 triệu đồng trở lên/1 năm. Đây là những gương sáng của Hội trên nhiều lĩnh vững kinh tế, đang được tuyên truyền phổ biến nhân ra diện rộng.

Hoạt động tình nghĩa trong nội bộ Hội luôn luôn được coi trọng, thực hiện ngày càng thiết thực, hiệu quả. Trong năm quĩ Hội tăng 925 triệu600 ngàn đồng. Tổng quĩ hiện có 5 tỉ 979 triệu đồng, bình quân: 123.700 đồng/hội viên.

Các cấp Hội đã thăm hỏi trên 5000 lượt hội viên và người thân ốm đâu, số quà trị giá trên 85 triệu đồng, giúp hội viên khó khăn hoạn nạn 13 người trên 10 triệu đồng, mừng thọ hội viên 70, 80, 90 tuổi hàng trăm triệu đồng.

Hội phối hợp với MTTQ các cấp và vận động hội viên tham gia ủng hộ vật tư, tiền mặt, nhân công xây nhà đại đoàn kết, đến nay đã xoá hết nhà dột nát của gia đình hội viên là Hội đi đầu phong trào này.

Năm qua đã tư vấn giải quyết được 1664 lao động là con em CCB có việc làm ổn định, có thu nhập bảo đảm cuộc sống.

Nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, Hội tham mưu cho cấp uỷ chính quyền tổ chức gặp mặt, tặng quà CCB tiêu biểu ở cả 3 cấp và tổ chức dược 33 đoàn cho 615 hội viên thăm lại chiến trường xưa, thăm di tích lịch sử văn hoá dân tộc, phối hợp với các đoàn thể tổ chức được nhiều buổi giao lưu văn nghệ, thể thao, tăng thêm niềm tự hào trong mỗi hội viên CCB.

Trong năm các cấp Hội nhận được 87 đơn thư của hội viên đề nghị bảo vệ quyền lợi. Hội đã xem xét, hướng dẫn, giúp đỡ hội viên đến các cơ quan chức năng nhà nước làm thủ tục, giải quyết. Hội tham gia thẩm định 1.105 đối tượng nhiễm chất độc da cam, xác nhận 7.153 đối tượng đề nghị được hưởng chế độ theo quyết định 47/CP, điều tra, khảo sát, lập danh sách 18.367 đối tượng CCB tham gia chống Pháp, chống Mỹ đề nghị cấp thẻ Bảo hiểm y tế. Đưa 10 CCB và con CCB về làng hữu nghị CCB VN điều dưỡng; tiến hành giúp chuyển đổi lương cũ sang lương mới cho cán bộ Hội CCB các cấp.

Hội vận động đông đảo hội viên tích cực hưởng ứng và tham gia các cuộc vận động các phong trào của địa phương như: Gương mẫu thực hiện cuộc vận động xây dựng làng, xã, khu dân cư, cơ quan văn hoá, nhất là thực hiện nếp sống văn hoá trong việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ ... đã có tác dụng lôi cuốn phong trào trong cộng đồng dân cư.

Hội viên đã góp quĩ đền ơn đáp nghĩa: trên 270 triệu đồng, quĩ vì người nghèo: gần 200 triệu đồng, quĩ khuyến học: 55 triệu, quỹ nạn nhân da cam 86  triẹu, ủng hộ đồng bào bị lũ lụt 138 triệu, đóng góp 6229 ngày công và 634 triệu đồng làm giao thông nông thôn ... Huyện hội Yên lạc được cấp uỷ, chính quyền tín nhiệm cử 50 hội viên liên tục làm công tác giám sát thi công đường giao thông ở địa phương.

Hội tham gia đón nhận 52 hài cốt liệt sĩ về mai táng tại nghĩa trang quê nhà.

Hội CCB tỉnh đã chỉ đạo tổ chức thành công đại hội nạn nhân chất độc dam cam điôxin tỉnh lần thứ nhất 2005 -2010 giúp hình thành bộ máy thường trực Hội, đang đi vào hoạt động.

3- Tham gia giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.

            Nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn, Hội đã phói hợp với Đoàn TN, các trường phổ thông, tổ chức nói chuyện truyền thống được 212 buổi cho 82.180 lượt thanh niên, học sinh, tổ chức 60 buổi giao lưu văn nghệ, 60 cuộc thi thể thao ở cơ sở thu hút đông đảo thanh thiếu niên tham gia. Là những nhân chứng trực tiếp tham gia hoạt động trong những thời điểm lịch sử của đất nước, các CCB đã truyền đạt đến lớp trẻ những sự việc, hành động dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, đoàn kết hợp đồng chặt chẽ giành chiến thắng trước quân thù, đã có sức thu hút lớn và để lại ấn tượng sâu sắc trong thanh, thiếu niên.

            Các cấp Hội luôn cổ vũ, ủng hộ mạnh mẽ các chương trình hoạt động của Đoàn như “phong trào thanh niền tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, “tuổi trẻ giữ nước”, “thanh niên lập nghiệp”...

            Hội tham gia củng cố 84 chi đoàn yếu trở thành khá, giúp 76 thanh niên hư đã tiến bộ, bồi dưỡng 521 thanh niên ưu tú phấn đấu được kết nạp Đảng. Qua giáo dục truyền thống yêu nước cho thanh niên, nhìn chung nhận thức được nâng lên, thanh niên đã xác định rõ vai trò xung kích trong công cuộc XD và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

            4- Công tác vận động cựu quân nhân và phối hợp hoạt động với các ban, ngành, đoàn thể bạn.

            Quán triệt sâu sắc nghị quyết 09 của Bộ chính trị, thông tri 28 của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc, các cấp Hội, nhất là cơ sở đã chủ động phối hợp với cơ quan quân sự, đoàn thành niên, chủ động tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền thành lập các cấu lạc bộ CQN, toàn tỉnh hiện đã có 146/152 xã phường, thị trấn, thành lập được 322 CLB, CQN thu hút 10.916 CQN vào sinh hoạt, nhiều CLB có nội dung hoạt động phong phú, chất lượng tốt, đúng hướng.

            Hội đã có quan hệ với 282 Ban liên lạc truyền thống như Hội đồng ngũ, đồng chiến trường... với trên 12631người tham gia, giúp đỡ các tổ chức này hoạt động đúng tính chất, gắn bó tình bạn chiến đấu, động viên nhau trong cuộc sống đời thường.

            Hội CCB tỉnh đã phối hơp hoạt động với 12 Ban, ngành đoàn thể bạn. Thường xuyên phối hợp thực hiện đạt kết quả tốt các nội dung đã ký kết, như: cơ quan công an, quân sự, các sở nông nghiệp, y tế, lao động thương binh và xã hội, ngân hàng chính sách xã hội, Ban dân tộc tôn giáo, Ban an toàn giao thông, Uỷ ban dân số gia đình trẻ em. Đoàn thanh niên, Đài phát thanh truyền hình tỉnh. v.v...

            Kết quả hoạt động phối hợp giữa các đơn vị đã tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp Hội hoàn thành các nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện tốt các chương trình kinh tế xã hội của địa phương, nhiệm vụ của Hội và các đơn vị.

            5- Xây dưng Hội trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

            a- Về chính trị, tư tưởng:

            Các cấp Hội đã thường xuyên quán triệt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương nhất là: chỉ thị 46 của Bộ chính trị về đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng 10, Nghị quyết TW 7,8,12 và Nghị quyết của Tỉnh uỷ, qua đó đã nâng cao nhận thức chính trị cho hội viên, tin tưởng vào sự lãnh đạo của  Đảng, tạo sự nhất trí cao về đường lối, kiên quyết đấu tranh chống những quan điểm sai trái với đường lối của Đảng, đồng thời nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chống diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch, góp phần giữ vững ổn định chính trị, tạo thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội trong tỉnh và cả nước. Song song với công tác giáo dục Hội còn tổ chức các hoạt động chào mừng những ngày lễ lớn trong năm như kỷ niệm gặp mặt, tổ chức các đoàn đi thăm chiến trường xưa, phối hợp với Đài truyền hình toạ đàm với nhân chứng lịch sử, nhân kỷ niệm 30 năm giải phóng miền năm, 60 năm ngày thành lập nước CH XHCNVN.... tổ chức hội diễn văn nghê, thể dục thể thao, thi tìm hiểu về Đảng, về đất nước, về chiến dịch Hồ Chí Minh  đại thắng. Từ công tác giáo dục tuyên truyền trên đã tạo cho Hội CCB trong tỉnh phấn khởi tin tưởng vào công cuộc đổi mới của Đảng nhất định thành công.

            b- Xây dựng Hội về mặt tổ chức:

            Nổi bật trong năm là tiến hành làm qui hoạt cán bộ Hội giai đoạn 2005-2015 ở cả 3 cấp: Đây là nhiệm vụ mới, nhưng với ý thức trách nhiệm cao, các cấp Hội đã tích cực tham mưu cho cấp uỷ và triển khai thực hiện, bảo đảm đúng nguyên tắc, qui trình và dân chủ ở mỗi cấp, mỗi chức danh cho trước mắt, cũng như lâu dài, bảo đảm chất lượng, đúng thời gian qui định.

            Công tác bồi dưõng cán bộ thường xuyên được coi trọng, trong năm đã tổ chức 1 lớp bồi dưỡng ở cấp tỉnh cho 78 chủ tịch, phó chủ tịch cơ sở, các huyện thị xã mở 10 lớp cho 922 uỷ viên BCH cơ sở, chi hội trưởng. Kết quả học tập 100% học viên đạt yêu cầu, trong đó có 80 - 90% khá giỏi. qua bồi dưỡng chất lượng đội ngũ cán bộ được nâng lên rõ rệt cả về lý luận và năng lực tổ chức thực hiện.

            Trong năm đã kiện toàn BCH Hội CCB tỉnh, huyện, thị và ở 23 Hội cơ sở, 76 chi hội trưởng, đội ngũ cán bộ Hội luôn giữ ổn định, bảo đảm cho hoạt động của Hội được thường xuyên, liên tục, có hiệu quả.

            Thực hiện chế độ: sinh hoạt, sơ, tổng kết ở các cấp được duy trì nghiêm túc có chất lượng như chế độ giao ban phản ánh tình hình, chế độ sinh hoạt Hội cơ sở và chi Hội đã có đổi mới cả về nội dung hình thức. Nên đã tạo được sự đồng thuận trong Hội, hoạt động có hiệu quả, được cấp uỷ đánh giá cao.

            Trong năm thành lập thêm 4 Hội cơ sở trong cơ quan hành chính nhà nước. Toàn tỉnh hiện có: 10 hội cấp huyện, thị và tương đương, 219 Hội cơ sở, 1.585 chi hội, 48.411 hôi viên đạt 84,20% CCB đã vào Hội.

            Đã tiến hành đổi thẻ cho 43.188 hội viên đạt 89.38%

            Ban chấp hành Tỉnh Hội đã tiến hành kiểm điểm giữa nhiệm kỳ III (2002-2007) của Hội. Đánh giá sau hơn 2 năm thực hiện nghị quyết đại hội: cán bộ hội viên CCB toàn tỉnh đã đoàn kết vượt khó vươn lên hoàn thành tốt các nhiệm vụ, nhiều chỉ tiêu của Đại hội đã hoàn thành vượt mức như: tỷ lệ Hội cơ sở, chi hội đạt TSVM. Hội viên gương mẫu, gia đình CCB văn hoá; xoá hộ nghèo; quỹ hội bình quân đầu người ... Xây dựng Hội trưởng thành vững chắc và toàn diện, góp phần tích cực vào thực hiện các chương trình kinh tế xã hội của địa phương. Bằng các kết quả hoạt động của mình, Hội CCB tỉnh Vĩnh Phúc đã khẳng định rõ là một đoàn thể chính trị xã hội, đại diên cho ý chí và nguyện vọng của CCB, thành viên tích cực của MTTQ, là chỗ dựa tin cậy của cấp uỷ, chính quyền nhất là cơ sở, được nhân dân tin tưởng.

            - Công tác kiểm tra được các cấp Hội quan tâm. Trong năm đã kiểm tra 4 huyện, thị Hội, 128 Hội cơ sở, 600 chi hôi, 8.611 hội viên. Đã xử lý kỷ luật khai trừ ra khỏi Hội 2 hội viên vi phạm pháp luật, xoá tên 18 hội viên do bỏ sinh hoạt Hội, đình chỉ sinh hoạt 4 hội viên vì đang bị tạm giam chờ xét xử.

            Qua kiểm tra đã giúp Hội nắm chắc tình hình, biểu dương người tốt, việc tốt, đơn vị tốt kịp thời uốn nắn khắc phục các yếu kém tồn tại, thúc đẩy hoạt động của Hội đi vào nề nếp, hiệu quả hơn.

            - Công tác thi đua khen thưởng: Ngay từ đầu năm BCH Tỉnh Hội đã phát động phong trào thi đua “CCB gương mẫu”  lập thành tích chào mừng các ngày lễ lớn, chào mừng Đại hội Đảng các cấp và kỷ niệm 16 năm ngày thành lập Hội CCB Việt nam. Các cấp Hội triển khai  bằng các phong trào thi đua của đơn vị mình, đăng ký các chỉ tiêu với Tỉnh Hội. Nhìn chung phong trào thi đua trong Hội được duy trì thường xuyên, phát triển cả bề rộng và chiều sâu, đạt nhiều kết quả tốt, nhiều điển hình mới xuất hiện, nhiều tiềm năng CCB được khai thác có hiệu quả.

            Các cấp hội đã xây dựng thang điểm để chấm điểm thi đua đã có tác dụng thúc đẩy phong trào lên một bước mới.

            Kết quả phân loại tổ chức Hội và hội viên năm 2005 như sau: Hội cơ sở TSVM = 214/217 = 98,61% tăng 0,5% so 2004, chi hội đạt TSVM = 1499/1585 = 94,57% - tăng 5,12% so với năm 2004, hội viên gương mẫu đạt 93,77% giảm 1,57% so với năm 2004, gia đình hội viên đạt tiêu chuẩn văn hoá = 94,47%.

 

ĐÁNH GIÁ CHUNG

            Với ý chí quyết tâm phấn đấu, đoàn kết nhất trí cao, vượt qua khó khăn, năm 2005 Hội CCB tỉnh đã hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ nhiều nhiệm vụ hoàn thành tốt, nổi bật là:

            - Xây dựng Hội TSVM cả về chính trị tư tưởng và tổ chức.

            Về chính trị tư tưởng: tuyệt đại đa số cán bộ hội viên CCB tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, nhất là tin vào đường lối đổi mới của Đảng đã giành được những thành tựu to lớn cả về chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, vị thế của nước ta được nâng cao trên trường quốc tế.

            Về tổ chức Hội đã phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu phát triển tổ chức Hội và hội viên nâng tỷ lệ CCB vào Hội trên 84%, cả số và chất lượng bảo đảm, đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của Hội.

            Chất lượng đội ngũ cán bộ được nâng cao, thường xuyên được kiện toàn và ổn định ở cả 3 cấp, có nhiều kinh nghiệm trong công tác xây dựng Hội.

            Thực hiện làm công tác qui hoạch cán bộ Hội CCB 3 cấp đáp ứng được quy trình nguyên tắc, dân chủ, thời gian theo qui định của trên, đảm bảo số và chất lượng cho công tác cán bộ Hội cả trước mắt và lâu dài.

            Công tác kiểm tra đã chuyển biến tích cực ở các cấp, hoàn thành tốt công tác đổi thẻ hội viên CCB.

            Thực hiện tốt công tác tham gia bảo vệ xây dựng Đảng, chính quyền phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị ở cơ sở, nhất là đóng góp vào văn kiện, nhân sự và bảo vệ đại hội Đảng 3 cấp thành công tốt đẹp. Nhiều đồng chí là cán bộ đương nhiệm và cán bộ Hội CCB được tín nhiệm bầu vào cấp uỷ.

            - Đoàn kết giúp nhau trong sản xuất kinh doanh, giảm hộ nghèo nhanh, nhiều hội viên và gia đình làm giàu chính đáng bằng công sức của chính mình, đồng thời đi đầu và xoá xong các nhà tranh tre nứa lá của CCB trong toàn tỉnh.

            - Đã tích cực phối hợp hoạt động với các sở, ban, ngành đoàn thể có hiệu quả như: phối hợp với Đoàn thanh niên, BCH Quân sự các cấp về giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, tổ chức thành lập các câu lạc bộ CQN trong toàn tỉnh...

            - Đẩy mạnh phong trào thi đua người “CCB gương mẫu” sôi nổi rộng khắp đã thu được kết quả đáng phấn khởi. Có nhiều phong trào hoạt động chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm, tổ chức hội diễn văn nghệ, từ cơ sở lên tỉnh đã thi đấu thể dục thể thao ở một số huyện thị Hội. Tổ chức các đoàn đi thăm quan chiến trường xưa, ra sách “Gương sáng CCB Vĩnh Phúc” tập 2, các phong trào hoạt động đó được nhân dân rất đồng tình ủng hộ và hoan nghênh.

 

KHUYẾT NHƯỢC ĐIỂM TỒN TẠI LÀ:

            1- Công tác làm tham mưu cho cấp uỷ về công tác Hội ở 1 số Hội chưa thật nhạy bén, thiếu chủ động nên vừa qua có cấp uỷ chưa quan tâm đúng mức đến công tác lãnh đạo Hội CCB.

            2- Chất lượng hoạt động ở 1 số Hội cơ sở và chi hội không đồng đều, hiệu quả thực hiện thấp.

            3- Duy trì sinh hoạt ở 1 số chi hội chưa đều, nội dung, hình thức sinh hoạt chưa được đổi mới, quân số dự họp thấp có nơi chỉ đạt 2/3 hội viên dự.

            4- Công tác qui hoạch cán bộ 1 số Hội nhận thức chưa đúng mức, triển khai còn lúng túng nên khi chọn nguồn chưa bảo đảm cần được quán triệt sâu sắc hơn để năm sau bổ sung nguồn cho qui hoạch cán bộ Hội có chất lượng.

            5- Phong trào thi đua giữa các đơn vị chưa đồng đều.

            6- Chấp hành chế độ báo cáo, nắm tình hình, phản ảnh tình hình còn sơ sài, chưa thật sâu sát cơ sở. Một số Hội báo cáo không nghiêm ảnh hưởng thời gian báo cáo của Tỉnh Hội lên trung ương Hội.

 

NGUYÊN NHÂN MẠNH YẾU.

            * Mạnh: - Hội được sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, trực tiếp của tỉnh uỷ và các cấp uỷ Đảng, sự giúp đỡ của các cấp chính quyền, sự phối hợp hoạt động của MTTQ và sở, ban, ngành đoàn thể bạn.

            - Được sự chỉ đạo và hướng dẫn sát sao của TW Hội CCBVN.

            - Sự đoàn kết thống nhất cao của BCH các cấp và của toàn thể cán bộ hội viên, đã quyết tâm vượt khó vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ.

            - Đội ngũ cán bộ Hội, trách nhiệm, nhiệt tình, tâm huyết với công tác Hội, tích cực, chủ động, sáng tạo trong công tác, bám sát thực tế, tập trung đi sâu chỉ đạo dứt điểm từng chương trình, cả nhiệm vụ trọng tâm và nhiệm vụ thường xuyên nên kết quả thực hiện nhiệm vụ trong năm hoàn thành tốt.

            * Yếu: - Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho hội viên chưa được thường xuyên, nên 1 số ít đồng chí nhận thức về tình hình và nhiệm vụ của Hội chưa thật đầy đủ, có ảnh hưởng đến sự phấn đấu chung của Hội.

            - Công tác làm tham mưu cho cấp uỷ về công tác Hội ở 1 số tổ chức Hội còn hạn chế.

            - Một số cán bộ Hội chưa thật sâu sát cơ sở, tính năng động sáng tạo trong chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ còn yếu, nên hiệu suất công tác không cao.

            - Nội dung, hình thức hoạt động, sinh hoạt của 1 số chi hội chậm được đổi mới, việc triển khai và tổ chức thực hiện phong trào của Hội còn nhiều hạn chế.

            - Công tác chỉ đạo phối hợp tham gia giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ chưa tập trung nhiều, nên phương pháp, hình thức giáo dục cho thanh thiếu niên chưa tạo được sự hấp dẫn.

            - Kinh phí hoạt động của Hội cơ sở còn rất hạn hẹp.

 

PHẦN THỨ HAI
PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ CÔNG TÁC HỘI NĂM 2006.

            Năm 2006, năm đầu của kế hoạch 5 năm (2006-2010), nước ta có những thời cơ và vận hội rất lớn, nhưng cũng phải đối mặt giải quyết những khó khăn phức tạp mới của sự phát triển, trong bối cảnh tình hình quốc tế tiếp tục diễn biến phức tạp và phải đối phó với thiên tai dịch bệnh; cơ hội và thách thức đen xen nhau và đều lớn hơn trước.

            Sự kiện trọng đại của đất nước diễn ra trong năm là Đại hội Đảng lần thứ X, đại hội là sự kiện được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cũng như CCB trong cả nước tích cực đóng góp vào thắng lợi của Đại hội; là dịp động viên cổ vũ toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phát huy thành tựu 5 năm qua và 20 năm đổi mới, quyết tâm đưa đất nước phát triển theo phương hướng, mục tiêu đại hội đề ra. Đây cũng là dịp các thế lực thù địch, các phần tư cơ hội chính trị coi là thời điểm để chống phá ta quyết liệt, chúng ta cần phải hết sức cảnh giác.

            Năm 2006 được Hội đồng nhân dân tỉnh xác định: là năm tiếp tục đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, CCB phấn dấu cùng nhân dân trong tỉnh thực hiên.

            Hội CCB tỉnh qua 3 năm thực hiện Nghị quyết đại hội III, đã đạt được kết quả toàn diện, có chỉ tiêu đã đạt và vượt chỉ tiêu đại hội đề ra. Tuy nhiên Hội vẫn còn 1 số vấn đề tồn tại, khuyết điểm phải ra sức khắc phục.

            Từ tình hình trên đòi hỏi các cấp Hội và cán bộ hội viên trong toàn tỉnh phải nỗ lực phấn đấu rất cao để hoàn thành nhiệm vụ 2006 của Hội.

 

Phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm, chỉ tiêu phấn đấu và những nhiệm vụ công tác lớn năm 2006 là:

 PHƯƠNG HƯỚNG CHUNG

Đoàn kết nhất trí cao phát huy những thành tích đã đạt được năm 2005. Quyết tâm xây dựng Hội CCB tỉnh trong sạch vững mạnh toàn diện cả về chính trị tư tưởng và tổ chức, đồng thời quán triệt và tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ 14, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 10, Pháp lệnh CCB Việt Nam. Đẩy mạnh phong trào thi đua người “CCB gương mẫu” hoàn thành tốt các chỉ tiêu, 7 nhiệm vụ và 5 chuyên đề do Đại hội CCB toàn quốc lần thứ 3 đã đề ra, chuyên hướng hoạt động mạnh xuống cơ sở. Chuẩn bị tốt mọi mặt để tiến hành đại hội nhiệm kỳ lần thứ 6 ở cơ sở, lần thứ 4 huyện, thị và tỉnh Hội vào cuối năm 2006 và năm 2007.

 

            NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM 2006

1- Tổ chức học tập, quán triệt, triển khai và thực hiện tốt các nghị quyết đại hội Đảng các cấp, đặc biệt nghị quyết đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ 14, Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, pháp lệnh CCBVN bổ sung vào nhiệm vụ của Hội, nhằm nâng cao nhận thức cho mọi cán bộ hội hội viên CCB để mọi người tự giác thực hiện.

2- Xây dựng Hội CCB các cấp trong sạch vững mạnh cả về chính trị tư tưởng và tổ chức, đội ngũ hội viên có số lượng đông, chất lượng cao, lấy xây dựng Hội cơ sở là trung tâm, xây dựng chi Hội là then chốt, , xây dựng đội ngũ cán bộ nhất là cán bộ chủ chốt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đây chính là động lực để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Hội.

3- Đoàn kết giúp đỡ nhau, nâng cao đời sống tinh thần, vật chất cho các hội viên nói chung, giúp nhau bằng nhiều biện pháp để xoá nghèo, làm giàu chính đáng ở các vùng dân tộc, các vùng có khó khăn nói riêng. Đồng thời tích cực tham gia các chương trình kinh tế, sản xuất, kinh doanh thích hợp để góp phần làm giàu cho địa phương và gia đình CCB.

4- Bổ xung hoàn chỉnh công tác qui hoạch cán bộ Hội ở cả 3 cấp, đồng thời tích cực bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt, chuẩn bị tốt mọi mặt về nhân sự cho nhiệm kỳ đại hội 6 cơ sở, đại hội 4 cấp huyện, thị và tỉnh Hội.

 

CHỈ TIÊU PHẤN ĐẤU NĂM 2006

1- 100% cán bộ chủ trì được quán triệt học tập các nghị quyết của Đại hội các cấp, nhất là Nghị quyết đaị hội tỉnh Đảng bộ lần thứ 14, đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 10. Pháp lệnh CCBVN đặc biệt tổ chức học tập bồi dưỡng thích hợp cho cán bộ chủ chốt của Hội ở cấp tỉnh, huyện, cơ sở và các cán bộ trung cao cấp đã nghỉ hưu được sâu hơn.

2- ổn định biên chế cơ quan Hội CCB tỉnh, huyện năm 2006. Phát triển hội viên năm 2006 là 3000 đ/c trở lên để nâng tỷ lệ CCB vào Hội 86%.

3- Phấn đấu xây dựng 100% tổ chức Hội CCB đạt đơn vị TSVM, trong đó có 30% đơn vị TSVM xuất sắc, hội viên gương mẫu đạt 90% trở lên, gia đình hội viên CCB đạt văn hoá 90% trở lên.

4- Giảm tỉ lệ nghèo từ 2,5% trở lên. số hộ khá, giàu tăng 1% trở lên.

5- Giảm mức thấp nhất CCB, con CCB phạm tội và mắc các tệ nạn xã hội, HIV/AIDS, nghiện ma tuý, không để phát sinh mới.

NHỮNG NHIỆM VỤ CÔNG TÁC LỚN NĂM 2006 CỦA HỘI

I- Tập trung lãnh đạo, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của Hội.

Giáo dục, động viên cán bộ, hội viên tham gia xây dựng và bảo vệ thành công Đại hội Đảng lần thứ X. Quán triệt sâu sắc nghị quyết Đại hội Đảng, bổ sung kịp thời nhiệm vụ của Hội theo nghị quyết đại hội Đảng các cấp.

Để góp phần bảo vệ thành công Đại hội Đảng X, các cấp Hội cần làm tốt công tác tư tưởng đối với cán bộ, hội viên nhất là trước và sau Đại hội Đảng X. Tổ chức quán triệt sâu các quan điểm, tư tưởng Đại hội, xây dựng lòng tin, quyết tâm, phát huy tính năng động sáng tạo trong thực hiện nghị quyết. Đại hội Đảng nêu cao ý thức cảnh giác cách mạng, tỉnh táo, kiên quyết làm thất bại âm mưu, “diễn biến hoà bình” “bạo loạn lật đổ” và luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận thành tựu đổi mới của nhân dân ta, đả kích vào sự lãnh đạo của Đảng, vu khống, bôi nhọ cán bộ lãnh đạo, gây tâm lý hoài nghi, thiếu tin tưởng, lợi dụng chiêu bài dân chủ, dân tộc, nhân quyền, chống tham nhũng để chống Đảng và chế độ ta, kích động đòi đa nguyên, đa đảng... của các thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị.

Thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở, chủ động nắm tình hình, làm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền ngăn ngừa, giải quyết các vấn đề phức tạp ở địa phương, các vấn đề đất đai, tài chính, đền bù giải phóng mặt bằng... hoà giải mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Không để hội viên CB tham gia khiếu kiện đông người trái pháp luật, không bị lôi kéo vào các hành động quá khích. Tích cực góp phần giữ ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội địa phương.

Sau đại hội Đảng các cấp, nhất là Đại hội Đảng X, các cấp Hội tiến hành học tập, quán triệt nghị quyết Đại hội Đảng theo hướng dẫn và kế hoạch của cấp uỷ, hướng dẫn của TW Hội CCBVN. Đồng thời bổ sung nhiệm vụ của Hội, chuẩn bị cho phương hướng, nhiệm vụ Đại hội nhiệm kỳ các cấp Hội sắp tới.

II- Tập trung sự chỉ đạo, tìm những biện pháp có hiệu quả để nâng cao đời sống CCB, đặc biệt là các vùng dân tộc, vùng khó khăn, động viên CCB làm giàu chính đáng, tham gia các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội gắn với thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng các địa phương và Đại hội Đảng lần thứ X.

- Về xoá đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng: Theo tiêu chí mới tỷ lệ nghèo toàn tỉnh Hội hiện nay là: 5,23%, nhiều hội xã miền núi có tỉ lệ nghèo rất cao: Bồ lý 65%, Đạo Trù 30,9% (Tam Đảo), Bạch lưu (Lập thạch): 23%...

Để thực hiện được chỉ tiêu giảm nghèo năm 2006, các cấp Hội, nhất là cơ sở phải nắm chắc từng hộ nghèo, nguyên nhân cụ thể, để xây dựng kế hoạch, giải pháp phấn đấu có kết quả nhất. Tiếp tục giải quyết 3 vấn đề chính là: -Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi cho thích hợp, hiệu quả; Vốn và kỹ thuật, chú trọng vào các vùng núi, vùng hạn hán kéo dài, vùng lấy đất làm công nghiệp và vùng có dịch cúm gia cầm. Tăng cường quan hệ với các ngành có liên quan để giúp hội viên sản xuất, kinh doanh, cung cấp thông tin kinh tế, thông tin thị trường, tiêu thụ sản phẩm...

Động viên các CCB là chủ doanh nghiệp, chủ các cơ sở sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả hoạt động, làm giàu hợp pháp, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước, góp phần tăng trưởng kinh tế đia phương.

Ở mỗi cấp, mỗi đơn vị chú ý phát hiện các điển hình kinh tế tập thể như: Hợp tác, liên kết để nâng cao khả năng sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, thu hút nhiều lao động, tăng tính cạnh tranh trên thị trường, kịp thời tuyên truyền nhân ra diện rộng. Tích cực tham gia thực hiện tốt các chế độ chính sách mới của Đảng và nhà nước đối với CCB.

Triển khai thực hiện nội dung ký kết phối hợp với liên minh HTX, nhằm khai thác tiềm năng của CCB trong phát triển các ngành nghề, các lĩnh vực kinh tế, các vùng miền, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương.

Gương mẫu hưởng ứng và tham gia các cuộc vận động từ thiện, nhân đạo, các phong trào, các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội gắn với thực hiện các nghị quyết Đại hội Đảng bộ địa phương, góp phần tích cực đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

III- Đẩy mạnh phát triển tổ chức, hội viên, nâng cao chất lượng chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ, chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở Hội.

1- Về chính trị tư tưởng.

Nắm vững trọng tâm công tác là tham gia bảo vệ thành công Đại hội Đảng X. Quán triệt nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, triển khai tuyên truyền học tập pháp lệnh CCBVN.

Thông qua đó đông viên tinh thần phấn khởi trước sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nâng cao trách nhiệm xây dựng Hội và thực hiện nhiệm vụ của Hội.

2- Tạo được sự chuyển biến mạnh về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ hoàn chỉnh việc qui hoạch cán bộ Hội, chuẩn bị cán bộ chủ chốt cho nhiệm kỳ tới các cấp Hội, ổn định tổ chức biên chế, coi đây là khâu đột phá để xây dựng và thực hiện nhiệm vụ của Hội.

- Công tác qui hoạch cán bộ Hội vừa qua đã hoàn thành, BCH Hội các cấp cần thông qua hoạt động thực tiễn để bồi dưỡng, giúp đỡ bổ sung vào nguồn, lựa chọn nhân sự có đủ điều kiện cần thiết để chuẩn bị cho Đại hội nhiệm kỳ các cấp vào năm 2007.

Tỉnh Hội quan hệ với cơ quan tổ chức cấp uỷ để ổn định biên chế, tổ chức,  bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ đưa hoạt động của Hội ngày càng đi vào nề nếp.

3- Xây dựng tổ chức và phát triển đội ngũ hội viên.

Tích cực tuyên truyền vận động tiếp tục thành lập Hội trong các cơ quan hành chính nhà nước, trường học và kết nạp hội viên, chú trọng 4 đối tượng mới. Đi đôi với phát triển về số lượng phải coi trọng chất lượng đội ngũ hội viên hạn chế thấp nhát số hội viên đưa ra khỏi hội, phấn đấu đạt và vượt chỉ tiêu năm 2006.

Tăng cường công tác kiểm tra tổ chức Hội và hội viên chấp hành điều lệ Hội, thực hiện nhiệm vụ chính trị của Hội, nhất là công tác tư tưởng trong tình hình hiện nay. Tích cực khắc phục số Hội cơ sở, chi hội yếu kém. Kiện toàn Ban chỉ đạo phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội ở tỉnh Hội và các huyện, thị Hội.

Hết sức quan tâm bồi dưỡng cán bộ chi hội, đổi mới mạnh mẽ về nội dung và hình thức, nâng cao  đươc chất lượng sinh hoạt, hoạt động ở chi hội, đi sâu vào các vấn đề thiết thực, hiệu quả, bảo đảm được quân số tham dự. Các huyện, thị Hội tổ chức thi chi hội trưởng giỏi, chọn người đi dự thi cấp tỉnh.

4- Triển khai chuẩn bị tốt đại hội Hội các cấp và Đại hội lần thứ IV Hội CCB toàn quốc.

-Các cấp Hội chủ động sẵn sàng làm tham mưu cho cấp uỷ sơ kết 5 năm thực hiện nghị quyết 09 của Bộ chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác CCB trong giai đoạn cách mạng mới” khi có hướng dẫn của TW Hội.

-Về đại hội CCB các cấp, sẽ tiến hành trong quí 4/2006 và năm 2007 (sẽ có hướng dẫn  sau)- BCH tỉnh Hội sẽ chuẩn bị báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm kỳ III, phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ IV của Tỉnh Hội, gửi xuống các cấp Hội để lấy ý kiến đóng góp và thành lập các tiểu ban: văn kiện, nhân sự, bảo đảm để chuẩn bị và phục vụ Đại hội.

IV- Về tham gia giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.

Phát huy kết quả và kinh nghiệm của 2 năm ký kết chương trình phối hợp với Đoàn TN (2002-2005). Tiếp tục triển khai thực hiện chương trình phối hợp 2006-2007, tập trung đi sâu vào 1 số vấn đề:

-Quan tâm nhiều hơn đến đối tượng thanh niên vùng dân tộc, vùng tôn giáo, thanh niên ở các vùng đô thị và học sinh, sinh viên.

Cụ thể hoá chương trình phối hợp trong từng đợt, từng thời gian có sơ kết đánh giá kết quả, đúc rút được kinh nghiệm từ thực tiễn.

-Đổi mới nội dung và hình thức giáo dục truyền thống, thích hợp với từng đối tương, tạo được sự hấp dẫn thanh thiếu niên, tránh lối làm kiểu đường mòn,  thiếu sâu sắc.

V- Đẩy mạnh phong trào thi đua “CCB gương mẫu” rộng khắp trong toàn tỉnh Hội, tích cực phối hợp hoạt động với các cơ quan, đơn vị bạn.

Đẩy mạnh phong trào thi đua “CCB gương mẫu” trong các cấp Hội, mục tiêu là hoàn thành và hoàn thành vượt các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2006. Từng đơn vị phát động phong trào thi đua trong đơn vị mình với các nội dung, mục tiêu cụ thể, gửi bản đăng ký về tỉnh Hội.

Hết sức coi trọng những nhân tố mới, những điển hình mới, kịp thời phát hiện, xây dựng nhân ra diện rộng.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả các chương trình phối hợp với đơn vị bạn, thường xuyên quan hệ, trao đổi thông tin, thông báo các vấn đề cần thiết với nhau nhằm phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, cùng nhau xây dựng đơn vị vững mạnh và hoàn thành tốt các nhiệm vụ.

VI- Về xây dựng câu lạc bộ cựu quân nhân:

- Tiếp tục thực hiện thông tri 28 của Tỉnh uỷ về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động CQN. Các cấp Hội cần chủ động phối hợp với cơ quan quân sự và đoàn Thanh niên, chủ động tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền cơ sở thành lập được CLB CQN ở 100% xã, phường, thị trấn trong tỉnh, mở rộng tổ chức này xuống các thôn, làng, khu dân cư, phấn đấu để mỗi xã, phường, thị trấn tổ chức dược từ 2 cầu lạc bộ CQN trở lên ở thôn, làng, khu dân cư. Đồng thời tổ chức rút kinh nghiệm xây dựng các CLB CQN hoạt động có hiệu quả, tháo gỡ các khó khăn trong quá trình hoạt động của các CLB. Bảo đảm để các CLB này hoạt dộng đúng hướng, đúng tính chất, phát huy đuợc bản chất truyền thống Bộ đội cụ Hồ trong điều kiện mới.

- Hội quan hệ với các Ban liên lạc truyền thống đơn vị, hội đồng ngũ, đồng chiến trường, giúp tổ chức này hoạt đông hiệu quả, thiết thực, đúng tính chất, gắn bó tình bạn chiến đấu.

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHÍNH

1- Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng làm cho cán bộ hội viên nhận thức sâu sắc các Nghị quyết của Đảng để vận động CCB thực hiện thắng lợi nghị quyết đã đề ra.

2- Phát động phong trào thi đua rộng khắp ở các cấp trong toàn tỉnh với mục tiêu là hoàn thành các chỉ tiêu năm 2006. Các đơn vị phải đăng ký thi đua với tỉnh Hội để theo dõi, chỉ đạo.

3- Tăng cường hoạt động và nâng cao chất lượng của công tác bồi dưỡng cán bộ Hội, công tác kiểm tra, tổ chức Hội và hội viên về thực hiện nhiệm vụ và chấp hành điều lệ Hội.

4- Tăng cường công tá điều tra nắm chắc hộ nghèo, thực trạng và hướng khắc phục, để xây dựng kế hoạch, biện pháp thích hợp với từng vùng, từng địa phương, từng hộ, đạt hiệu quả giảm được hộ nghèo, tăng hộ khá và giàu, tiếp tục đầu tư giải quyết tốt 3 vấn đề: vốn, kiến thức và chuyển đổi ngành nghề, cơ cấu cây, con thích hợp, khắc phục khó khăn về đất sản xuất, thời tiết, dịch bệnh....

5- Trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ hết sức chú trọng nắm vững nhiệm vụ trọng  tâm, đơn vị điểm, đồng thời làm chuyển biến từng khâu yếu, đơn vị yếu với phát hiện sớm các điển hình tiên tiến mới, những nhân tố mới để tuyên truyền, nhân rộng.

6- Quan hệ chặt chẽ với các đơn vị phối hợp hoạt động, tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp Hội hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

7- Tập trung xây dựng và nâng cao chất lượng sinh hoạt và hoạt động ở chi hội - khâu then chốt trong xây dựng Hội.

DỰ KIẾN CÁC HỘI NGHỊ CẤP TỈNH

1- Tổ chức tập huấn tại Trường Chính trị tỉnh cho cán bộ chủ chốt huyện, thị và cơ sở. Nội  dung NQ đại hội Đảng, Pháp lệnh CCB.

2- Tham mưu cho cấp uỷ tổ chức hội nghị 5 năm thực hiện NQ 09 Bộ Chính trị về tăng cường công tác lãnh đạo Hội CCB trong giai đoạn cách mạng mới.

3- Tham mưu cho UBND tỉnh, các huyện, thị xã tổ chức hội nghị sơ kết thực hiện chỉ thị 487 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng Hội CCB trong các cơ quan HCSN, DNNN.

4- Tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm về vay vốn, xoá  nghèo, giải quyết việc làm.

5- Tổ chức hội nghị triển khai đại hội Hội CCB các cấp năm 2007.

6- Mở hội nghị với các TB liên lạc truyền thống đơn vị, xây dựng câu lạc bộ CQN để rút kinh nghiệm trong hoạt động ở các mặt công tác này.

7- Tổ chức Hội thi  Chi hội trưởng Hội CCB toàn tỉnh

8- Tổ chức Hội thi thể thao 3 môn:(Cầu lông, Bóng bàn, Cờ tướng) toàn tỉnh.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2006, BCH các cấp Hội cần nắm vững phương châm: Lấy nhiệm vụ chính trị làm trọng tâm, lấy nhiệm vụ nâng cao đời sống làm động lực; lấy xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ làm khâu đột phá: Lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chính, thi đua hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu đề ra./.

                                                               

T/M BCH HỘI CCB TỈNH VĨNH PHÚC
CHỦ TỊCH

(đã ký)

Lê Văn Nên

Các tin đã đưa ngày: