Văn hóa – xã hội huyện Lập Thạch giai đoạn 2000 – 2010

19/06/2012

1. Giáo dục - đào tạo

a. Giáo dục

- Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, sự nghiệp giáo dục của huyện đã đạt được một số kết quả khả quan. Hệ thống trường lớp đáp ứng được nhu cầu học tập của con em nhân dân. Chất lượng giáo dục đang có sự chuyển biến tích cực. Đội ngũ giáo viên cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu về chất lượng giảng dạy. Trình độ giáo viên được nâng lên đạt chuẩn và trên chuẩn. Cơ sở vật chất được nâng cấp nhất là ở trung tâm các xã trường THPT. Kinh phí dành cho ngân sách sự nghiệp giáo dục tăng, chế độ chính sách ưu đãi đối với giáo viên miền núi, chính sách học sinh nội trú và nội trú dân nuôi được thực hiện đã góp phần động viên đội ngũ giáo viên và học sinh.

- Hệ thống trường lớp tiếp tục được củng cố và phát triển: Đến hết năm học 2009 - 2010, toàn huyện có 23 trường mầm non, trong đó nhà trẻ có 47 nhóm với 1192 học sinh, mẫu giáo có 172 lớp với 5168 học sinh. Tiểu học có 25 trường, 356 lớp với 7998 học sinh (tuyển mới vào lớp 1 có 1740 học sinh đạt 100%). Trung học cơ sở (kể cả trường dân tộc nội trú) có 21 trường với 255 lớp, 7565 học sinh, tuyển mới vào lớp 6 đạt 100% (1675 học sinh). Toàn huyện có 20/20 xã, thị trấn đạt PCGD tiểu học đúng độ tuổi; 20/20 xã, thị trấn đạt phổ cập giáo dục THCS.

- Đến 2010 số trường trên địa bàn huyên đạt chuẩn Quốc gia cao hơn so với mặt bằng chung của tỉnh. Trường mầm non có 10/23 đạt chuẩn Quốc gia (đạt 43,47%). Tiểu học có 20/25 trường đạt 80%. Trung học cơ sở có 9/21 trường đạt 42,8%.

- Hiện tại tất cả các trường đều nối mạng Internet và 100% trường trung học cơ sở có mạng Lan.

- Với nhận thức đội ngũ giáo viên có vai trò quyết định chất lượng giáo dục, những năm gần đây phòng giáo dục và đào tạo luôn chú trọng, quan tâm đến công tác xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên để có được một đội ngũ đủ về số lượng, mạnh về chuyên môn, đồng bộ về cơ cấu bộ môn từ đó đáp ứng nhu cầu dạy và học của sự nghiệp giáo dục huyện.

b. Đào tạo nghề

Công tác đào tạo nghề được quan tâm; đã huy động được nhiều nguồn lực và một số thành phần kinh tế cùng tham gia, toàn huyện có 1 trung tâm giáo dục thường xuyên.

Hàng năm, các tổ chức đoàn thể phối hợp với các trường dạy nghề của tỉnh tổ chức đào tạo dạy nghề cho lao động gồm các nghề cơ khí, gò hàn, may, điện, kỹ thuật sản xuất và chế biến nông lâm nghiệp thủy sản. Tỷ lệ lao động qua đào tạo ngày càng tăng.

Công tác ứng dụng khoa học kỹ thuật được tăng cường, nhất là ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp và đời sống đã đem lại hiệu quả thiết thực. Công nghệ thông tin được triển khai ứng dụng trong công tác quản lý nhà nước đã đạt được một số kết quả bước đầu.

2. Công tác y tế, dân số, gia đình và trẻ em

2.1. Mạng lưới y tế và trang thiết bị y tế 

Hệ thống y tế trên địa bàn huyện Lập Thạch hiện nay bao gồm: 1 bệnh viện đa khoa huyện, 1 trung tâm y tế dự phòng và 20 trạm y tế xã, thị trấn.

+ Bệnh viện đa khoa huyện: Tổng diện tích 26891,9 m2 với quy mô 100 giường bệnh; đã được nâng cấp xây dựng cơ bản đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân. Trang thiết bị chủ yếu gồm: máy X quang, máy điện tim, siêu âm,.máy tạo ô xy, máy thở, máy monitor, hệ thống gây mê hồi sức, máy xét nghiệm sinh hóa, huyết học... Tổng số bác sỹ, cán bộ nhân viên 93 người (bác sỹ 13; y sỹ 20; dược sỹ 1; dược trung 7; điều dưỡng 27; cán bộ nhân viên khác 25).

+ Trung tâm y tế dự phòng: Tổng diện tích 4200m2, nhà 2 tầng kiên cố, cơ sở vật chất và trang thiết bị đã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Hiện nay tổng số bác sỹ, cán bộ nhân viên có 24 người (bác sỹ 2 người; y sỹ 8 người; dược trung 1 người; điều dưỡng 6 người, cán bộ nhân viên khác 7 người).

+ Các trạm y tế xã, thị trấn: Có 20 trạm y tế xã, thị trấn (trong đó có trạm y tế Thị trấn Hoa Sơn mới được thành lập chưa đi vào hoạt động chính thức), 19/20 đơn vị có trạm tầng theo tiêu chí chuẩn Quốc gia về y tế xã. Riêng trạm y tế xã Quang Sơn chưa hoàn thiện, chưa đưa vào hoạt động, đây là trạm gặp nhiều khó khăn nhất trong huyện về cơ sở vật chất. Hai trạm chưa có nhà tầng là Trạm y tế xã Văn Quán và trạm y tế xã Liễn Sơn. Trang thiết bị tại các trạm y tế xã, thị trấn khá đầy đủ theo chuẩn của ngành.

Nhìn chung, mạng l­ưới y tế từ huyện đến cơ sở đư­ợc củng cố và phát triển. Cơ sở vật chất trang thiết bị đư­ợc tăng cư­ờng. Đặc biệt tháng 3/2009 UBND tỉnh và Sở Y tế đã cấp đủ 32 danh mục y cụ thiết yếu cơ bản cho các trạm y tế xã.

Tổng số cán bộ y tế xã, thị trấn là 123 người bao gồm 15 bác sỹ, 42 y sỹ đa khoa, 10 y sỹ y học cổ truyền, 15 y sỹ sản nhi, 27 điều dưỡng, 1 dược sỹ trung học, sơ cấp 13).

+ Y tế thôn bản: Sau khi thực hiện Quyết định của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc thành lập các thôn dân cư, hiện toàn huyện có 214 y tế thôn trên 214 thôn dân cư. Số cán bộ có bằng chuyên môn hoặc chứng chỉ đào tạo còn thấp (đạt 32%). Hoạt động chủ yếu là kiêm nhiêm (phụ nữ, dân số…), hàng năm chưa được đào tạo, cập nhật chuyên môn. Qua thực tế thấy hoạt động chuyên môn của y tế thôn bản còn nhiều hạn chế, bất cập với nhiệm vụ được giao.

2.2. Kết quả hoạt động chính

Mặc dù còn khó khăn nhưng ngành y tế huyện Lập Thạch đã phấn đấu và đạt được nhiều thành tựu trong khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Năm 2010 các chương trình y tế được triển khai nề nếp, thường xuyên, đảm bảo chất lượng. Công tác tiêm chủng, tiêm phòng được duy trì đầy đủ về số lượng và chất lượng. Công tác phòng chống sốt rét, phòng chống bướu cổ được duy trì thường xuyên và tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân, tỷ lệ hộ dùng muối đủ tiêu chuẩn đạt 98%. Công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em và bảo vệ sức khỏe bà mẹ, kế hoạch hóa gia đình đều được chú trọng và đạt hiệu quả cao. Trẻ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi còn 20,9%. Phụ nữ độ tuổi sinh đẻ được quản lý và bảo vệ, tỷ lệ sinh con tại cơ sở y tế đạt 100%. Công suất sử dụng giường bệnh đạt 99%.  Công tác dân số, gia đình và trẻ em tiếp tục đạt được những kết quả tốt ; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm dần, năm 2009 là 1,06%; 100% trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được quan tâm chăm sóc.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ, y đức cho đội ngũ cán bộ y tế đ­ược chú trọng; việc khám chữa bệnh cho trẻ em và người nghèo được quan tâm. Các chương trình, mục tiêu quốc gia về y tế được thực hiện có kết quả, không có dịch bệnh lớn xảy ra.

3. Văn hoá thông tin - thể dục thể thao

3.1. Các thiết chế văn hóa, thông tin, thể dục - thể thao

- Toàn huyện có 213/214 thôn có nhà văn hóa; 19/20 xã, thị trấn xây dựng xong nhà văn hóa xã và có 31 câu lạc bộ văn hóa - văn nghệ - thể dục thể thao.

- Sân vận động: 20/20 xã, thị trấn đã dành đất và quy hoạch xong đất nhưng về diện tích theo Nghị quyết 07/HDND tỉnh Vĩnh Phúc là chưa đủ và chưa xây dựng thành khu thể thao trung tâm xã, thị trấn.

- Hệ thống thư viện: trên địa bàn huyện có 6 thư viện phục vụ nhu cầu độc giả. Trong đó có 1 thư viện trung tâm huyện và 5 thư viện cấp xã (Sơn Đông, Đình Chu, Ngọc Mỹ, Quang Sơn, thị trấn Lập Thạch).

- Trên địa bàn huyện hiện có 16 điểm bưu điện văn hóa xã, 20 điểm dịch vụ Internet, 11 trạm BTS và 3368 điện thoại.

- Tuy nhiên trang thiết bị phục vụ cho ngành còn thiếu nhiều chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng tăng của các tầng lớp nhân dân trong huyện.

3.2. Các hoạt động chính

- Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” có bước phát triển mới. Năm 2009 toàn huyện có 19.793/25.886 hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa (đạt 76,9%); 51,4% số thôn, bản đạt văn hóa; 100% các đơn vị trên địa bàn đạt danh hiệu văn hóa. Việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội được đông đảo nhân dân đồng tình hưởng ứng, nhiều hủ tục lạc hậu được ngăn chặn. Các hoạt động văn hoá đã bám sát nhiệm vụ chính trị, từng bước đổi mới về nội dung và hình thức. Công tác bảo tồn,trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử được sự quan tâm, hưởng ứng của các cấp, các ngành và nhân dân trong toàn huyện.

- Công tác thông tin, tuyên truyền đạt nhiều kết quả tốt, phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị trên địa bàn huyện.

- Phong trào luyện tập thể dục, thể thao ngày càng được mở rộng, các môn thể dục dưỡng sinh, bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, cờ tướng đã được nhân dân hưởng ứng tập luyện, tỷ lệ dân số thường xuyên luyện tập thể dục, thể thao đạt khoảng 20%.

4. Xoá đói, giảm nghèo và thực hiện chính sách xã hội, việc làm

- Được sự quan tâm thường xuyên của các cấp uỷ Đảng và chính quyền chỉ đạo tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và chuyển giao khoa học kỹ thuật ở những xã khó khăn, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho ng­ười lao động. Vì vậy, trong 9 năm, số xã nghèo và hộ nghèo đã giảm xuống rõ rệt. Theo tiêu chuẩn hiện hành, năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện còn 10,27%.

- Công tác đào tạo nghề được quan tâm, đã huy động được nhiều nguồn lực và một số thành phần kinh tế cùng tham gia. Trên địa bàn huyện có Trung tâm dịch vụ viêc làm do Sở Lao động - thương binh và xã hội của tỉnh quản lý đang hoạt động. Hàng năm đào tạo khoảng 10 lớp trung cấp nghề với khoảng 600 học viên. Các ngành nghề đào tạo chính gồm: may, tin học văn phòng, cơ khí, gò hàn, may, điện, kỹ thuật sản xuất và chế biến nông lâm nghiệp thủy sản. Chất lượng lao động qua đào tạo ngày càng tăng. Số học viên sau khi ra trường cơ bản đã tìm được việc làm phù hợp.

- Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động được quan tâm. Trong 9 năm qua đã giải quyết việc làm cho người lao động thuộc nhiều ngành kinh tế như nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và đã giới thiệu cho nhiều đơn vị, tổ chức, cá nhân tuyển người đi lao động, làm việc ở trong n­ước và nước ngoài.

- Các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo, từ thiện, xây nhà đại đoàn kết chăm sóc giúp đỡ người có công, vận động ủng hộ đồng bào bị bão lụt, nạn nhân chất độc màu da cam, ngày vì ng­ười nghèo… đ­ược phát triển sâu rộng trong nhân dân. Đời sống vật chất và tinh thần của các gia đình chính sách đ­ược cấp uỷ, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể nhân dân các cấp quan tâm chăm sóc.

Nhìn chung công tác xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm thường xuyên được Huyện ủy, UBND và các cơ quan ban ngành đoàn thể cấp huyện, cấp xã quan tâm chỉ đạo. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành được thực hiện đồng bộ, hiệu quả. Các chính sách hỗ trợ về giải quyết việc làm và XĐGN được thực hiện tốt và phát huy có hiệu quả.

Tuy đã đạt được một số thành tích đáng kể nhưng do quá trình tăng trưởng kinh tế và tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh, bên cạnh đó tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo và có trình độ văn hóa thấp còn nhiều do vậy việc tiếp cận với khoa học kỹ thuật mới còn rất nhiều hạn chế, đặc biệt là số lao động làm việc ở các ngành kinh tế nông nghiệp, nông thôn còn thiếu về chất. Công tác xóa đói giảm nghèo vẫn còn một số cấp ủy, chính quyền chưa thực sự quan tâm đầy đủ. Công tác điều tra, rà soát hộ nghèo hàng năm một số xã chưa quan tâm đúng mức. Một số ít hộ nghèo vẫn còn tính trông chờ, ỷ lại vào chính sách, chưa tự lực vươn lên.

 

5. Công tác quốc phòng an ninh

Đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng nền quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân, giữa quốc phòng an ninh với phát triển kinh tế – xã hội. Chủ động đấu tranh phòng, chống âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch, đảm bảo an ninh chính trị nội bộ, giữ vững ổn định trật tự xã hội. Th­ường xuyên xây dựng, bổ sung hoàn chỉnh kế hoạch sẵn sàng chiến đấu, gắn với thực hành diễn tập khu vực phòng thủ huyện, xã; công tác nắm nguồn và quản lý thanh niên sẵn sàng nhập ngũ có chuyển biến tích cực; hoàn thành 100% kế hoạch tuyển quân. Tổ chức tương đối tốt việc đăng ký, quản lý và huấn luyện lực l­ượng dự bị động viên và dân quân tự vệ, việc huấn luyện diễn tập luôn gắn với phục vụ nhiệm vụ chính trị ở địa ph­ương như­: Phòng chống lụt bão- tìm kiếm cứu nạn, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống cháy rừng và bảo vệ rừng, làm đư­ờng giao thông, giải quyết vi phạm đê điều.

Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm và chương trình hành động phòng chống ma tuý được triển khai thực hiện có hiệu quả. Lực lượng công an làm nòng cốt đã triển khai và thực hiện tốt công tác bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Đã điều tra, làm rõ các vụ án hình sự, xử lý nhiều đối tượng tội phạm, góp phần kiềm chế sự gia tăng tội phạm, làm giảm đối tượng nghiện ma tuý.

Các cơ quan bảo vệ pháp luật ở địa phương đã từng bước được kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động theo tinh thần cải cách tư pháp. Đã tạo được sự phối hợp giữa cơ quan trong khối nội chính với các cấp, các ngành, giải quyết có hiệu quả các điểm mâu thuẫn khiếu kiện phức tạp ở cơ sở.

(Theo Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH huyện Lập Thạch đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030)

Các tin đã đưa ngày: