Trịnh Văn Cấn ( ? - 1918)

02/08/2011

Trịnh Văn Cấn ( ? - 1918)

 

Người làng Yên Nhiên, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên. Nay thuộc xã Vũ Di, huyện Vĩnh Tường. Ông còn có tên khác nữa là Trịnh Văn Đạt, là viên đội lính khố xanh trong cơ binh Pháp đông ở Thái Nguyên (vì thế gọi là Đội Cấn)

 

Trình Văn Cấn vào lính khố xanh ở Vĩnh Yên. Đó có văn hay chữ tốt, tư cách lại đứng đắn, biết tự trọng nên ông được giám và binh lính nề trọng. Ông được lên chức Cai. Do cứu được một viên đội bi thương trong một lần giáp chiến với nghĩa quân Đề Thám, nên ông được thăng chức đội và chuyển về Thái Nguyên.

 

Đội Cấn là người chịu ảnh hưởng và khâm phục tinh thần yêu nước chống Pháp của nghĩa quân Đề Thám. Ông cùng Lương Ngọc Quyến một chí sĩ yêu nước đang bị giam tại nhà tù ở Thái Nguyên lãnh đạo binh lính người Việt chống Pháp vào đêm ngày 30 tháng 8 năm 1917. Đội Trường được cử đi hạ sát tên giám binh người Pháp là Nô-en, tên phó quản người Việt tên là Lạp và viên Đội Hành, đã phá nhà đề lao, giết chết trên giám mục Lô-ét, giải phóng cho 203 tù nhân và dẫn họ sang trại lính khố xanh.

 

Đội Cấn tập hợp lực lượng gồm tất cả 311 người, ông tuyên bố khởi nghĩa, tiến hành duyệt đội ngũ, phân phát vũ khí và quân phục cho các tù nhân. Rồi được tôn là "Thái Nguyên Quang Phục Quân đại đô đốc". Lương Ngọc Quyến giữ chức vụ quân sư. Nghĩa quân lần lượt chiếm các cơ quan thống trị của pháp ở Thái Nguyên. Lấy cờ hiệu có 5 ngôi sao lớn với 4 chữ đề “Nam binh phục quốc",  treo ở ngoài cửa thành Thái Nguyên, phát lịch tuyên bố Thái Nguyên đơn lập, đặt quốc hiệu là Đại Hùng. Sáng 31 tháng 8, trừ trại lính Tây, nghĩa quân đã hoàn toàn làm chủ Thái Nguyên.

 

6 giờ sáng ngày 2 tháng 9 năm 1917, bộ binh Pháp có pháo binh yểm trợ, tiến từ Hà Nội, mở màn cuộc tấn công vào các phòng tuyến của nghĩa quân.  Từ đó, đến ngày 5 tháng 9, các cuộc tấn công của địch liên tiếp nổ ra. Do không chống nổi lực lượng mạnh của địch, nghĩa quân phải tổ chức rút lui. Đội Cấn xếp đặt để đưa Lương Ngọc Quyến theo, nhưng Lương Ngọc Quyến yêu cầu ông hãy bắn phát đạn vào ngực mình đề khỏi ảnh hưởng đến các chiến sĩ. Cay đắng và ngậm ngùi, ông buộc lòng phải thực hiện yêu cầu của Lương Ngọc Quyến.

 

Thái Nguyên sau một tuần lễ tuyên bố độc, lại rơi vào tay Pháp. Song Đội Cấn và các cộng sự vẫn tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến, tuy nghĩa quân đã phải rút ra khỏi tỉnh lị, hoạt động ở các vùng dọc theo sườn núi Tam Đảo; lại có lúc vượt sang miền đất Phúc Yên, Vĩnh Yên ở một số làng xã các huyện Bình Xuyên, Lập Thạch, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Yên Lãng, Kim Anh. Đi đến đâu nghĩa quân cũng được nhân dân ủng hộ. Song thời cuộc chưa đến và trước sự truy đuối của địch lực lượng nghĩa quân hao mòn dần.

 

Ngày 20 tháng 12 năm 1917, nghĩa quân về đóng ở núi Pháo, phía tây Nam Cù Vân. Ngày 24 trong chiến đấu, Đội Cấn bị thương vào đùi, 3 nghĩa quân khác hy sinh, lực lượng chỉ còn lại hơn 10 người và tiếp tục bị bao vây ở đây. Ngày 10 tháng 1 năm 1918, trong trận chiến đấu với quân Pháp tại núi Pháo, Đội Cấn bị thương nặng. Do không muốn để quân Pháp bắt được, ông đã tự sát. Cái chết của ông và của Lương Ngọc Quyến làm rạng ngời trang sử Thái Nguyên.

 

Các tin đã đưa ngày: