Gia đình, dòng họ, làng xóm của người Việt

23/12/2009

            1. Gia đình

Gia đình của người Việt ở Vĩnh Phúc có hai dạng: gia đình nhỏ và gia đình mở rộng. Dạng thứ nhất là gia đình nhỏ hay gia đình hạt nhân: chỉ có một cặp vợ chồng và con cái cùng chung sống trong một ngôi nhà, có ruộng đất và tài sản riêng.

Dạng thứ hai là gia đình mở rộng: Gồm cặp vợ chồng, con cùng chung sống với bố mẹ, các anh chị em chưa lập gia đình trong một ngôi nhà. Mọi tài sản trong nhà đều là của chung, các thành viên ăn chung, làm chung.

Trong gia đình nhỏ cũng như gia đỉnh mở rộng mặc dù người phụ nữ có tham gia vào những công việc của gia đình nhưng quyền quyết định quan trọng nhất vẫn thuộc về nam giới. Như vậy, hình thái gia đình phụ quyền và gia trưởng đến nay vẫn tồn tại trong hầu khắp làng quê của Vĩnh Phúc. Tính chất phụ quyền này được thể hiện qua quyền uy tối cao của người cha đối với con, của người chồng đối với người vợ, đặc biệt quyền thừa kế chỉ dành cho con trai.

Trong gia đình, quan hệ giữa cha mẹ và con cái là mối quan hệ vô cùng thiêng liêng. Đã là phận con phải luôn trọn chữ hiếu với bố mẹ. Bên cạnh mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, trong gia đình người Việt ở Vĩnh Phúc còn có các mối quan hệ khác như: quan hệ giữa bố mẹ chồng và con dâu, quan hệ các anh chị em trong gia đình, quan hệ giữa gia đình và dòng họ. Như vậy, mỗi gia đình đều có các quan hệ thân tộc anh em, họ hàng đồng thời còn là một thành viên của cộng đồng làng, xóm. Các gia đình đều có trách nhiệm tham gia vào các hoạt động chung của cộng đồng. Người chủ gia đình làm đại diện để tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau khi có các công việc đại sự.

2. Dòng họ

Trong quan niệm của người Việt, họdòng họ có một vị trí đặc biệt quan trọng.

Quan hệ giữa các thành viên trong một dòng họ luôn mang tính tôn ti chặt chẽ. Người Việt đặc biệt chú trọng đến thứ bậc, vai vế. Người sinh ra trước là bậc trên và người sinh ra sau là bậc dưới. Từ mối quan hệ này, người Việt mới có mối quan hệ con chú, con bác hay anh em họ với nhau. Sự phân biệt này trong dòng họ được thực hiện một cách nghiêm ngặt và bắt buộc các thành viên trong gia đình, dòng họ phải tuân thủ. Trong dòng họ còn có sự phân biệt cành trên với cành dưới, chi trên với chi dưới. Sự phân biệt này được cụ thể hoá ngay trong gia phả của từng dòng họ. Vào mỗi dịp lễ “chạp họ” cuối năm, trưởng họ đều nhắc lại mối quan hệ của các gia đình trong họ để các thành viên trong họ nắm vững.

Bên cạnh mối quan hệ theo thứ bậc và huyết thống, các hộ gia đình trong dòng họ còn có mối quan hệ tương trợ giúp đỡ nhau về kinh tế. Khi một gia đình trong dòng họ có công việc, các hộ gia đình khác trong họ thường có sự giúp đỡ dù ít hay nhiều.

Dòng họ nào cũng có một người làm trưởng họ, vị trí này được truyền nối từ đời này qua đời khác. Nếu vì lí do nào đó mà người con trai trưởng không thực hiện được vai trò trưởng họ thì người con trai thứ sẽ đảm đương. Trong trường hợp người con trai trưởng không có con trai thì vai trò làm trưởng họ được giao cho em trai thứ và tiếp đó là con trai của người em thứ.

Trưởng họ có một vai trò nhất định trong đời sống sinh hoạt dòng họ cũng như trong quan hệ giữa dòng họ với cộng đồng làng xóm, là chỗ dựa tinh thần của các thành viên trong dòng họ. Hàng năm, các dòng họ đều tổ chức họp họ để bàn bạc các công việc chung của dòng họ.

Về quan hệ anh em trong dòng họ: Xét về huyết thống thì dòng họ gồm những người cùng huyết thống, cùng chung ông tổ. Anh em trong cùng một nhà, cùng một dòng tộc phải cùng nhau gánh vác, chia sẻ mọi công việc chung.

Dòng họ là một thiết chế xã hội, ngày nay vẫn đang tồn tại khá bền vững. Bằng các hoạt động thờ cúng tổ tiên (giỗ họ), lập gia phả, tu bổ nhà thờ, dòng họ vẫn có một sự cố kết nội tại không phải do những quy tắc rõ ràng, những luật phép thành văn mà do những mối liên hệ sâu xa hơn, đó là huyết thống, mặc dù đã có sự xâm nhập của yếu tố kinh tế thị trường vào cộng đồng làng xã.

3. Làng xóm

Làng là cộng đồng cư trú cơ bản của người Việt từ xa xưa. Làng vừa là một đơn vị kinh tế, vừa là một cộng đồng văn hoá, lại vừa là một đơn vị xã hội. Làng người Việt được phân bố thành 4 kiểu:

Phân bố thành khối dài và dọc đường cái, nhất là dọc bờ sông và chân đê.

Phân bố thành một khối chặt, trong đó các xóm tự xếp cạnh nhau thành những "ô bàn cờ", tách nhau bởi những lối đi tương đối thẳng, hay thành những ô không hình thể rõ ràng, tách nhau bởi những lối đi ngoằn ngoằn.

Phân bố thành hình vành khăn từ chân đồi lên lưng chừng đồi, đây là kiểu phân bố thường thấy ở vùng trung du.

Phân bố lẻ tẻ, mỗi xóm cách biệt những xóm khác cùng làng bởi đồng ruộng.

Trong mỗi làng, dân cư chủ yếu tập hợp theo quan hệ láng giềng. Mỗi làng có ruộng đất riêng, có nơi thờ thành hoàng riêng. Tuỳ theo điều kiện tự nhiên và địa bàn cư trú, số dân nhiều hay ít mà làng có quy mô lớn nhỏ khác nhau. Dân cư trong làng thường tập hợp theo 3 hình thức: Theo địa vực (chia thành xóm, ngõ); theo huyết thống (họ) và theo lứa tuổi (giáp).

           Tập hợp người theo địa vực

Về địa vực cư trú, những làng làm nông nghiệp thường được hình thành ở những nơi thuận tiện cho việc canh tác lúa nước. Đặc điểm chung của những làng này là nhà cửa được bao bọc bằng những vườn rộng trồng cây ăn quả và xung quanh là những khu ruộng trũng, nơi diễn ra những hoạt động sản xuất hàng ngày. Mô thức phổ biến của làng Việt cổ truyền vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ là làng tự phân thành nhiều "xóm", xóm tự phân thành nhiều ngõ. Các gia đình sống trong cùng một xóm, ngõ không nhất thiết là họ hàng của nhau, nhưng sẵn sàng giúp đỡ nhau lúc khó khăn, hoạn nạn. Trước đây xóm nào cũng có điểm là nơi thờ các vị thần bảo hộ xóm đồng thời là trụ sở tổ chức các hoạt động chung của cộng đồng. Mỗi xóm đều có giếng nước công phục vụ sinh hoạt.

Xóm là tổ chức quan trọng với mọi nhà. Vì vậy, hàng năm những gia đình trong xóm phải họp để bầu ra người có uy tín nhất làm (trưởng) xóm.

Tập hợp người theo huyết thống (họ)

Làng Việt cổ truyền ở đồng bằng và trung du Bắc bộ là một đơn vị dân cư được tập hợp chủ yếu theo quan hệ láng giềng. Trong mỗi làng có nhiều dòng họ cùng cư trú, các dòng họ đều là những thực thể gắn kết với nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống. Tuy nhiên sự gắn kết dòng họ thể hiện chủ yếu ở khía cạnh tinh thần và ràng buộc với nhau thông qua gia phả, nhà thờ họ và việc thờ cúng tổ tiên.

Tập hợp người theo lớp tuổi (giáp)

Các làng ở Vĩnh Phúc cũng như ở khắp Bắc bộ đều có tổ chức giáp. Giáp là tổ chức hoàn toàn tự nguyện của nam giới ở trong làng, bố vào giáp nào cho con vào theo giáp ấy nhưng không bắt buộc là người cùng một họ.

Tổ chức phường, hội

Phường, hội là tổ chức tập hợp những người cùng làm một nghề, cùng sở nguyện ở một làng. Phường, hội ra đời nhằm mục đích tương trợ, giúp đỡ nhau về một phương diện nào đó trong sinh hoạt sản xuất, được tổ chức khá chặt chẽ, quy củ. Một làng có thể có nhiều nghề phụ nên có rất nhiều phường nghề. Ở Vĩnh Phúc qua khảo sát có một số phường, hội sau: Phường buôn thịt, phường mộc, phường buôn trâu, phường vịt, phường thợ cối, phường chạ hoa (phường của những người nuôi cá giống), phường gốm, phường cối, phường tôm cá. Nhiều làng còn tổ chức phường chèo, phường hội của những người diễn chèo tuồng. Các phường nghề đều có những nội dung tổ chức và sinh hoạt giống nhau. Phường nào cũng phải bầu người có của, có tư cách, có năng lực làm trùm phường. Muốn ra nhập phường, hội viên các phường đều phải có thủ tục đem cành cau thẻ hương trình trùm phường, xin vào phường và để lễ thánh sư.

Ngoài phường nghề, các làng ở Vĩnh Phúc còn tổ chức các "họ" hoặc phường để giúp đỡ nhau theo hình thức mở quĩ tín dụng cho nhau vay khi nhà có công to việc lớn. Bên cạnh tổ chức phường, trong xã hội truyền thống ở các làng Việt còn có hội tư văn gồm những người biết chữ Hán. Những người vào hội tư văn sẽ được tham gia khởi thảo văn tế. Ngoài ra còn có các hội như: hội bản binh hoặc hàng đội của những người đi lính ở cùng làng; hội đồng môn của các học trò cùng học một thầy, hội đồng tuế của những người cùng tuổi. . . Các hội trên bầu người có tư cách, tài năng và giàu có đứng đầu hội. Mỗi hội đều có quĩ chung. Các hội viên tham gia vào hội một cách tự nguyện.

Phường, hội khi xưa thực ra là những tổ chức quần chúng của những người cùng sở nguyện và tổ chức hợp tác xã sản xuất của những người cùng nghề hoặc hợp tác xã tín dụng cho vay không lấy lãi. Các tổ chức ấy tồn tại trong một thời gian dài, góp phần tăng cường tình đoàn kết tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách.

Bộ máy chính quyền cấp xã

Bộ máy chính quyền ở xã dưới triều Nguyễn và trong buổi đầu của thời Pháp thuộc (trong thế kỉ XIX và hai mươi năm đầu thế kỷ XX) gồm:

Hội đồng kì mục: Gồm toàn bộ quan lại đã nghỉ hưu và đương chức ở làng. Trong số đó, ai có chức tước cao nhất, được phong phẩm hàm cao nhất thì được làm tiên chỉ phụ trách hội đồng kì mục. Ngoài ra, còn 1 hoặc 2 ông thứ chỉ giúp việc. Hội đồng kì mục có quyền quyết định mọi việc làng.

Thông thường mỗi làng Việt truyền thống cũng làm một xã - cấp hành chính thấp nhất của triều đình. Cũng có khi hai, ba làng nhập làm một xã như xã Quan Nội có các làng Tháp và làng Này... Khi một xã có ba làng thì các làng được gọi là thôn, như xã Chấn Hưng có 3 làng cổ gọi là làng Thượng Thôn, làng Hạ Thôn và Sơn Kiệu. Có khi một làng lớn lại chia thành nhiều xã. Các xã đó dân làng cũng gọi là thôn. Chẳng hạn làng Kẻ Mác được chia thành ba xã: Xa Mạc, Bồng Mạc, Yên Mạc.

Bộ máy hành chính ở làng gọi là ban lí dịch: đứng đầu lí dịch là lí trưởng và phó lí. Ở những xã có hai, ba làng thì trừ làng có người làm lí trưởng, các làng còn lại, mỗi làng được bầu một người làm phó lí. Ban lí dịch có các chân giúp việc là thư kí hộ lại, quản bạ, quản xã.

Những người muốn tranh chức lí trưởng, phó lí đều phải chạy bằng tiền đút cho các chân kì mục. Có nơi các họ lớn tranh nhau chức lí trưởng đế có quyền thế bắt nạt họ khác hoặc để khỏi bị họ khác chèn ép. Vì thế, trước đợt bầu bán, anh em họ mạc, nhất là anh em gần gũi chung nhau ba bốn đời họp bàn, bán ruộng cho nhau tiền để tranh chức lí trưởng. Người nào được bầu phải tô chức khao làng trước khi nhận chức. Danh dự ở làng, đó là ra đình được tham gia vào ban tế hoặc được vào chiếu lễ trước dân làng. Ăn cỗ được ngồi chiếu trên, được phần biếu đầu gà má lợn, không phải đi phục dịch làng.

Ai muốn có danh dự địa vị ấy đều qua các lệ vọng, có khi còn phải qua thủ tục khác khá tốn kém. Người đỗ đạt, người muốn ra làm việc cho làng, người cao tuổi muốn được lên hàng lão giả an tri đều phải khao làng, có như thế mới được dân làng trọng vọng.

Dân hàng xã: gồm toàn bộ nam giới từ 18 tuổi trở lên, tức toàn thể những người đã đóng góp sưu thuế cho chính quyền quân chủ Trung ương, được Nhà nước công nhận và có quyền bầu cử ở cấp xã, cũng như quyền bàn bạc việc làng, việc nước.

Luật lệ của làng

Lệ làng là những quy định của từng làng về mọi mặt sản xuất, tín ngưỡng, sinh hoạt của cộng đồng từ giao tiếp đến trị an ... Mọi hoạt động trong cuộc sống của dân làng phải nhờ có lệ làng đảm bảo cho mọi sự được bình yên.

Lệ làng có nội dung rất phong phú, nó tồn tại song song với luật pháp của Nhà nước phong kiến Trung ương và mặc nhiên quyền lực ấy được thừa nhận như những văn bản pháp lí. Lệ làng vì thế phản ánh mọi mặt đời sống, mọi quan hệ của làng mạc cổ truyền, thông qua đó thấy được xã hội phong kiến Việt Nam ở từng thời kì lịch sử.

Khi chưa có chữ viết, những nhóm tụ cư nhỏ, tổ chức xã hội còn đơn giản, cũng đã phải đề ra với nhau bằng miệng những luật lệ. Từ khi có chữ viết, lệ làng mới chính thức được văn bản hoá thành văn bản luật của làng. Lệ làng hay hương ước phản ánh trình độ dân trí văn hoá của mỗi làng. Ở những làng đất học, bản hương ước được viết chặt chẽ hơn, khoa học hơn. Ở Việt Nam, lệ làng có nhiều tên gọi riêng. Có lẽ tên gọi lệ thuộc vào những người soạn thảo, có nơi gọi là lệ làng, nhiều nơi gọi là hương ước, hương khoán hay khoán ước, khoán lệ, cựu khoán…

Hương ước, do một hoặc do một số trí thức bình dân ở làng được cử ra khởi thảo. Rồi hội đồng kì mục hoặc hương hội sẽ góp ý kiến sửa chữa. Ở nhiều làng còn đưa ra lấy ý kiến góp ý của hội tư văn trước khi hội đồng kì mục xem xét bàn định. Các bản lệ làng Phong Danh, Thượng Trưng, Bảo Trưng, Sơn Tang, Bạch Trữ. . . đều là những lệ làng đã sửa chữa lại cho phù hợp với chủ trương của chính quyền thực dân phong kiến về cải lương hương chính, ở dưới đều kí tên của các thành viên hội đồng.

Cũng có khi lệ làng được khắc vào bia đá. Chẳng hạn văn bia ở làng Phú Đa do ông Nguyễn Thai - đại quan triều đình soạn ra. Đây được xem là một loại văn bản luật của làng bao gồm các quy định nhằm ổn định sản xuất và sinh hoạt ở địa phương.

Một loại lệ làng khác của một số làng như làng Can Bi (xã Phú Xuân - Bình Xuyên) lại chỉ đề cập riêng về tín ngưỡng cầu tế của làng. Trong đó quy định việc đóng góp và sửa soạn lễ lạt cho các kì tiệc chính. Đồng thời, cũng ghi rõ ai làm sai lệ làng về tín ngưỡng thì sẽ bị phạt 100 miếng cau hoặc phải nộp vạ bằng cỗ mặn.

Nội dung các văn bản hương ước đề cập đến mọi mặt đời sống của từng làng xã nhưng mở đầu thường là các điều quy định về tín ngưỡng.

Các bản hương ước đều đề cập đến cấp bậc, ngôi thứ ở làng.

Tiêu chuẩn để có địa vị ngôi thứ cao ở làng là người có tài đỗ đạt cao hoặc đã từng làm quan, nếu không thì phải là người cao tuổi. Không có các tiêu chuẩn ấy thì phải mua địa vị, danh giá bằng tiền. Để có tiền làm đình chùa, xây trường, mở chợ, làm cầu cống. . . hàng năm làng tổ chức bán ngôi. Người muốn có ngôi thứ ở làng phải làm tục vọng và phải khao rất to. Nhà có của mới mua được ngôi thứ nhưng nếu là người trộm cắp thiếu tư cách thì muốn mua ngôi thứ cũng không được làng chấp thuận.

Tuỳ điều kiện của mỗi làng mà hương ước có những nội dung khác nhau.

Làng thuần nông sẽ có nhiều điều quy đinh về thuỷ lợi, thuỷ nông, đồng điền.

Làng có võ quan có lệ ưu tiên đến lính tráng. Làng đất học có các điều lệ ưu tiên cho sĩ tử, người đỗ đạt.

Hoạt động tín ngưỡng luôn được đề cao nên các làng có lệ bầu chủ tế rất kĩ. Người được bầu phải cao tuổi, vợ con song toàn, gia đình yên ấm, đã có ngôi thứ cao trong làng. Ở những làng lớn, người có ngôi chủ tế phải khao làng từ dân đinh để lên đến thái vãi. Nhiệm kì có thể 3 đến 5 năm nếu gia đình không có biến động. Ở những làng này vì khao chủ tế lớn nên đổi lại mỗi kì tiệc làng đều có phần chia về nhà rất lớn, có khi đến một gánh nặng xôi thịt. Chủ tế được ngồi cỗ cao chất ở chốn đình trung. Cũng có nhiều làng nhỏ, nghèo khó, chủ tế bầu theo từng tiệc hoặc mỗi năm chọn một lần, không phải khao làng. Thông thường hương ước ghi chi tiết mọi quy định về ngôi chủ tế.

Các lệ về ma chay, cưới xin, tuần phòng thì hương ước làng nào cũng không thể thiếu. Cộng đồng có trách nhiệm với từng thành viên và mỗi thành viên đều phải có trách nhiệm gắn bó với cộng đồng, thiết thực nhất là ở các điểm này. Các lệ làng về ma chay nói chung linh hoạt tùy giàu nghèo mà làm ma chay từ đại lệ, tráng lệ, xuống tiểu lệ, làng không bắt buộc. Nhưng làm ở mức nào cũng đều phải báo cho xóm, giáp, chức tế dịch biết, trước là khai tử, sau là lo thủ tục ý táng cho người quá cố. Nếu làm ma quá lớn làng sẽ tổ chức cúng tế. Ở làng Bồng Mạc mở một cổng chính và một cổng phụ ra nghĩa địa. Ai làm trái lệ làng về ma chay, khi đưa ma phải đi bằng cổng phụ, tang chủ bị dân làng khinh rẻ.

Việc hôn thú phải nộp cheo là lệ ở mọi làng. Đám cưới con gái lấy chồng ngoài làng phải nộp cheo ngoại gấp đôi cheo nội lấy chồng làng. Có làng cheo chỉ là trầu cau cáo thần. Có làng phải kèm lễ xôi gà cáo thần. Nhiều làng phải nộp bằng tiền cho xóm, cho giáp, cho làng. Tiền ấy xung công qũi để xây dựng công ích, có khi cheo nộp bằng gạch để lát đường, xây giếng. Cheo tuy phiền toái nhưng nó gắn bó trách nhiệm của mỗi người với làng xóm. Ngày trước người nào cưới mà không có cheo thì dân làng không thừa nhận. Sau này có con nếu như xảy ra tranh chấp tài sản sẽ không được bảo vệ, những đứa con của vợ chồng không nộp cheo cũng không được thừa kế tài sản của gia đình.

Tất cả mọi suất đinh từ 18 tuổi đến 50 tuổi (còn bạch đinh, không có tiền chạy nổi ngôi thứ để vào hàng quan viên) đều phải đi tuần phiên canh phòng cũng như cũng như phu phen tạp dịch. Nhiều làng, ai đến 40 tuổi thì được miễn trừ 50% thời gian phục dịch làng.

Trong quá trình biến đổi, hiện nay ở các thôn xóm, ngoài các mối quan hệ anh em, họ hàng như đã trình bày ở trên thì mối quan hệ cộng đồng làng xóm vẫn được duy trì và phát huy. Việc gắn liền những mục tiêu tăng trưởng kinh tế hộ gia đình với phát triển cộng đồng đã thực sự tạo ra những thay đổi căn bản cho bộ mặt nông thôn. Ở các thôn xóm đã triển khai các Nghị quyết của Trung ương và tỉnh về những quy định, quy ước về nếp sống trong việc cưới, việc tang, lễ hội và xây dựng làng, bản văn hoá, gia đình văn hoá. Trên cơ sở đó, một số nghi lễ phức tạp, tốn kém đã bị loại bỏ, thay vào đó là những tập tục mới.

Chẳng hạn, việc kết hôn được thực hiện theo Luật Hôn nhân gia đình, đúng với thuần phong mĩ tục, truyền thống dân tộc và đảm bảo tiết kiệm. Mỗi thôn, xã đều phấn đấu xây dựng thành những khu dân cư văn hoá mới trên cơ sở các quy ước, hương ước phù hợp với địa phương, nhằm gìn giữ và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp vốn có. Mặt khác, trong mỗi thôn xóm, quan hệ giữa những người dân với nhau cũng như với các trưởng thôn, bí thư chi bộ là mối quan hệ bình đẳng và dân chủ. Trưởng thôn là người do nhân dân trong thôn bầu ra, là cầu nối giữa nhân dân với chính quyền địa phương. Quyền hạn và chức trách của trưởng thôn cũng được quy định rõ ràng. Họ là người giúp ủy ban nhân dân xã về mọi mặt như: tổ chức hướng dẫn vận động nhân dân trong phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, tổ chức bảo vệ công tác giữ gìn an ninh trật tự, công tác hoà giải trên địa bàn thôn xóm, đoàn kết xây dựng nông thôn mới... góp phần quan trọng vào xây dựng thôn xóm văn minh dân chủ.

Thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường do Chính phủ ban hành, người dân được biết, được bàn, được tham gia và kiểm tra, giám sát các công việc nội bộ theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lí, nhân dân làm chủ”

Trước xu thế phát triển của nền kinh tế thị trường, đời sống mỗi hộ gia đình được nâng lên rõ rệt, làng xã không chỉ còn đóng khung trong nền kinh tế tự cấp, tự túc mà mỗi hộ gia đình đã trở thành một đơn vị sản xuất kinh doanh với mối giao lưu rộng rãi. Người nông dân ngày càng có tầm nhìn rộng hơn, càng gắn bó cuộc sống riêng với lợi ích chung của cộng đồng.

Các tin đã đưa ngày: