Những yếu tố hình thành tư duy đổi mới đầy sáng tạo của đồng chí Kim Ngọc

06/10/2017

Đồng chí Kim Ngọc, người con ưu tú của quê hương Vĩnh Phúc, là niềm tự hào của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Vĩnh Phúc.

Từ nửa sau thế kỉ XX đến nay, cuộc đời, tư duy đổi mới, những sáng tạo cống hiến của ông luôn là đề tài phong phú cho các nhà nghiên cứu khoa học, cho những người ngưỡng mộ đổi mới sáng tạo cống hiến, cho các tầng lớp nhân dân trong và ngoài tỉnh quan tâm.

Người ta gọi ông là “Cha đẻ của Khoán hộ”, “Người đi trước thời gian”, “Người mở đường cho tư duy đổi mới về nông nghiệp, nông thôn, nông dân”…

Cống hiến lớn lao nhất của ông là ông chủ động, chủ trì để có một Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, một Nghị quyết có tính đột phá đầy sáng tạo, có tác dụng thay đổi cách nhìn, cách nghĩ về con người, về lao động, về sáng tạo, về cống hiến. Nghị quyết có tác dụng tức thì và lâu dài về sự đổi đời cho những con người lao động được chủ động, được tự do lao động, sản xuất, được phát huy mọi khả năng, tiềm năng, khát vọng, sáng tạo, cống hiến. Đó là Nghị quyết số 68 ngày 10 tháng 9 năm 1966: “Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong hợp tác xã hiện nay”. Sau này, người ta quen gọi là Nghị quyết 68 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc.


Đ/c Nguyễn Đức Tẩm , nguyên ủy viên BTV Tỉnh ủy, nguyên Trưởng BTG TU
phát biểu tại Hội thảo khoa học
“Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc - Một con người đổi mới và sáng tạo”  

Nghị quyết 68 đề cập tới vấn đề “lao động”, vấn đề “tăng năng suất lao động”, vấn đề “con người lao động có kĩ năng, sử dụng được thành thạo các công cụ sản xuất tiên tiến”, vấn đề “phải tạo mọi điều kiện huy động, sử dụng được hết và tốt mọi khả năng lao động hiện có”, vấn đề “ra sức mở rộng kinh doanh toàn diện, phát triển nhiều ngành nghề”, vấn đề “phát triển sản xuất, tăng thu nhập, tăng tích lũy, nâng cao đời sống”, vấn đề “kiên quyết thực hiện bằng được, đúng và tốt chế độ ba khoán: Khoán việc cho nhóm, cho lao động và cho hộ”, vấn đề “tích cực cải tiến công cụ sản xuất”, vấn đề “xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, sử dụng hợp lý, tiết kiệm sức lao động”, vấn đề “phải xác định đúng đắn thái độ lao động, nghĩa vụ lao động cho từng loại lao động”, vấn đề “bảo đảm huy động, sử dụng được hết khả năng người, ngày, giờ, kỹ năng lao động”, vấn đề “thâm canh, tăng năng suất lao động”, vấn đề “tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, các ngành đối với công tác quản lý lao động”.

Nghị quyết 68 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc do đồng chí Kim Ngọc Bí thư Tỉnh ủy chủ động khởi xướng, chủ trì, điều tra, khảo sát, thí điểm, thảo luận, tranh luận và đi đến thống nhất ban hành ngày 10/9/1966. Nghị quyết vừa ra đời đã được toàn Đảng, toàn dân Vĩnh Phúc hoan nghênh đón đợi và thực hiện trên địa bàn toàn tỉnh.

Giá trị ý nghĩa của Nghị quyết đã vượt ra khỏi những vấn đề về quản lý lao động nông nghiệp. Giá trị ý nghĩa to lớn sâu sắc của Nghị quyết là ở chỗ Nghị quyết giúp cho chúng ta nhận rõ chân giá trị của con người, khẳng định con người là trung tâm, con người là yếu tố quyết định của thành công, đề cao vị trí vai trò cá nhân của con người với mọi tiềm năng hiện có.

Nghị quyết về giao khoán chính là Nghị quyết về giao quyền tự chủ, tự quyết định, tự lao động sáng tạo, tự vươn lên làm chủ được vận mệnh, sự sáng tạo trong cuộc đời mình.

 Nghị quyết còn nêu lên một bài học lớn cho tất cả các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, các tổ chức xã hội, luôn tôn trọng, phải biết phát huy mọi khả năng, mọi tiềm năng của mỗi con người thường xuyên chú trọng đổi mới tư duy, cải tiến phương tiện kỹ thuật, khoa học công nghệ phục vụ cho lao động sản xuất, chiến đấu và mục tiêu cao cả của lao động, sáng tạo là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

       Những yếu tố hình thành tư duy đổi mới đầy sáng tạo của đồng chí Kim Ngọc:

 Xuất thân là một nông dân nghèo khổ muốn đổi đời

Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở một làng quê đất bạc màu thôn Đại Nội, xã Bình Định, huyện Yên Lạc. Gia đình ông đời nọ nối tiếp đời kia làm nghề nông thuần túy. Cánh đồng làng ông, ruộng bậc thang trên là đồng cao đất pha cát, dưới cùng là đầm chiêm lầy lội. Cánh đồng như một cái rổ thưa, chưa nắng đã hạn, chưa mưa đã lụt. Người ta thường nói với nhau “chiêm khô mùa thối”, mất mùa nối tiếp mất mùa. Đời sống nông dân chân lấm, tay bùn, suốt ngày “bán mặt cho đất bán lưng cho trời” mà vẫn không đủ ăn, nghèo vẫn hoàn nghèo. Gia đình ông cũng như bao gia đình khác trong làng sống trong cảnh bần hàn nghèo túng truyền kiếp.

Thấm thía cảnh nghèo đói quanh năm, ông luôn có khát vọng đổi đời. Ông mong sao mỗi người trong gia đình ông, trong làng xóm ông có được cơm no áo ấm. Khát vọng đó theo đuổi suốt đời ông. Làm thế nào để có đủ ăn đủ mặc, làm thế nào để được học hành, làm thế nào để có dư thừa tích lũy, làm thế nào để có cuộc sống sung sướng hạnh phúc ấm no. Đó là một yếu tố luôn thôi thúc ông tìm cách đổi đời.

 Đi làm thuê, làm tá điền cho địa chủ

Năm 17 tuổi, ông cùng người anh trai tìm đến đất Hương Sơn, Bình Xuyên đi làm thuê và làm tá điền cho địa chủ. Cái tên Hương Sơn, Hương Vị, Hương Ngọc, Chùa Tiếng, Tam Lộng, Chân Sơn nghe đã thấy hay, những tưởng đến đây sẽ được đổi đời, nhưng cuộc đời đi làm thuê, làm tá điền cho chủ đồn điền Đỗ Đình Đạo cũng chẳng hơn gì so với những ngày ở quê. Ông làm việc như khổ sai cả ngày cả đêm nhưng vẫn chỉ đủ kiếm miếng ăn qua ngày nói gì đến việc nuôi gia đình. Những ngày làm tá điền cho địa chủ ở vùng “chó ăn đá gà ăn sỏi” này là những ngày ông suy nghĩ vì sao địa chủ thì giàu, nông dân thì nghèo. Làm thế nào để có cuộc đổi đời cho người nông dân. Họ cũng là con người, họ cũng phải có đất có nhà, có cơm ăn áo mặc, phải được học hành, phải có gia đình hạnh phúc. Những câu hỏi ấy luôn trong tâm trí ông. Ông phải quyết tâm đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi ấy.

Gặp ánh sáng của Đảng, suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp của Đảng

Những năm làm thuê, làm tá điền cho chủ đồn điền Đỗ Đình Đạo, ông gặp được một số Đảng viên của chi bộ Tam Lộng, một trong những chi bộ đầu tiên của Đảng bộ Vĩnh Phúc do đồng chí Lê Đình Tuyển sáng lập. Với thân phận người cùng khổ, ông nhanh chóng giác ngộ và tích cực tham gia hoạt động cách mạng, năm ấy ông 22 tuổi.

Tháng 4/1940 ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, được công nhận chính thức vào tháng 10/1940, và cũng từ đây, cuộc đời của ông gắn liền với cuộc đấu tranh cách mạng của quê hương, đất nước. Ông tham gia lãnh đạo giành chính quyền vào tháng 8 năm 1945 ở Vĩnh Yên. Ông tham gia Huyện ủy, Bí thư Huyện ủy Tam Dương tháng 10/1946. Ông tham gia Tỉnh ủy viên phụ trách huyện Tam Dương, huyện Lập Thạch năm 1947. Ông tham gia phụ trách Nông hội tỉnh Vĩnh Yên  năm 1948. Ông tham gia Bí thư Huyện ủy Bình Xuyên năm 1949. Ông tham gia Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc kiêm chính trị viên Tỉnh đội từ tháng 3/  1952 đến tháng 10/1955. Ông tham gia Khu ủy viên Khu ủy Việt Bắc, Phó Chính ủy Bộ tư lệnh Quân khu Việt Bắc, Cục phó Cục Động viên và Dân quân, Chính ủy Cục Nông binh thuộc Bộ Quốc phòng từ tháng 10/1955 đến cuối tháng 10/1958.

Từ tháng 1/1959 đến tháng 1/1968, ông là Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc. Từ tháng 2/1968 đến tháng 5/1977, ông là Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú.

Từ ngày theo Đảng, vấn đề độc lập dân tộc, hòa bình thống nhất, dân chủ giàu mạnh là mục tiêu, khát vọng, mơ ước và cũng là những điều ông trăn trở suốt đời phấn đấu. Đó cũng là một yếu tố để hình thành nhân cách, trí tuệ, tư duy đổi mới và sáng tạo của ông.

 Ham học, học thường xuyên, học suốt đời

Ngay từ thưở nhỏ, gia đình nghèo, ông không được đi học nhưng hàng ngày ông vẫn đến một lớp học của một Hương sư trong làng. Ông học lỏm và thuộc lòng từng câu “Nhân chi sơ tính bản thiện”, “Dân vi bản, sĩ vi tiên”, “Quốc thái dân an”, “Quan quan thư cưu, tại hà chi châu, yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu”…của lớp Nho học mà thầy giáo gõ thước cho học sinh cả lớp đọc. Ông học chữ quốc ngữ qua bạn bè và đồng chí trong quá trình hoạt động cách mạng. Ông học Truyện Kiều của Nguyễn Du và vận dụng trong từng thời điểm khi nói chuyện với nhân dân, với cán bộ chiến sĩ. Ông đọc Tam quốc diễn nghĩa, Thủy Hử, Hồng Lâu Mộng, ông đọc Phạm Tải Ngọc Hoa, Phạm Công Cúc Hoa, Lưu Bình Dương Lễ…để học tập và ứng xử trong cuộc sống. Ông học các lớp bổ túc văn hóa, ông học tiếng Nga từ một người thư ký giúp việc có trình độ chuyên môn tiếng Nga. Ông đọc nhiều sách luật, ông đọc nhiều sách viết về quản lý kinh tế, quản lý nhà nước. Ông nghiền ngẫm các đường lối chính sách của Đảng, ông học cao cấp lý luận ở trường Đảng. Ông học ở sách báo, ông học ở bạn bè học ở mọi người, học ở dân…Điều quan trọng nhất của ông là học để biết, học để làm việc, học để đáp ứng nhiệm vị được giao, học để tìm ra cái mới để sáng tạo.

Ông học cách nói của tục ngữ, cao dao, dân ca. Những khẩu hiệu chống hạn thời Kim Ngọc mọi người đều nhắc đến: “Vắt đất ra nước thay trời làm mưa”, khẩu hiệu chống úng lụt: “Nghiêng đồng đổ nước ra sông”…

Những người đã từng làm việc, tiếp xúc với ông đều kính phục ông về sự hiểu biết sâu rộng nhiều mặt, và càng kính phục ông khi ông trình bày ý kiến rõ ràng, mạch lạc, khúc triết, hóm hỉnh, hài hước, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo. Ông quan niệm “Bể học vô bờ”, “Càng học càng thấy dốt”, “Càng dốt càng phải học”, “Tự học là đỉnh cao của học”, “Học để thành tài”, “Học để sáng tạo”, “Học để cống hiến”…

Tất cả những điều đó là một yếu tố hình thành nhân cách, bản lĩnh, trí tuệ và tư duy đổi mới sáng tạo của ông.

 Học tập và làm theo lời Bác dạy

Ở Vĩnh Phúc, ông là một trong số ít người được thường xuyên gần Bác. Mỗi lần Bác Hồ về Vĩnh Phúc, chúng ta thường thấy đồng chí Kim Ngọc luôn ở bên Bác. Hình ảnh của Bác với đồng chí Kim Ngọc như hình ảnh cha con, hình ảnh thầy trò. Đồng chí Kim Ngọc luôn khắc sâu lời dạy của Bác khi Bác về thăm và nói chuyện với cán bộ đảng viên, nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc: “Mỗi đảng viên phải gương mẫu. Người nào chưa gương mẫu thì phải cố gắng trở thành gương mẫu cho xứng đáng là đảng viên”, “Mỗi đảng viên và mỗi đoàn viên phải xung phong gương mẫu trong mọi việc, phải ra sức đoàn kết và giúp đỡ bà con cùng tiến bộ, phải làm cho Vĩnh Phúc thành một trong những tỉnh giàu có, phồn vinh nhất ở miền Bắc nước ta”.

Đồng chí Kim Ngọc luôn nhớ lời dạy của Bác “Phải tận trung với nước, tận hiếu với dân”, “Dĩ công vi thượng”, “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”.

Đồng chí Kim Ngọc là một trong những người tiêu biểu nhất học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách lối sống của Bác Hồ kính yêu. Cả cuộc đời của ông phấn đấu vì độc lập tự do, hòa bình thống nhất, dân chủ giàu mạnh cho quê hương đất nước.

Làm theo lời Bác, sống chiến đấu, lao động, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại là một yếu tố làm nên nhân cách, bản lĩnh, tư duy đổi mới của đồng chí Kim Ngọc.

Suy tư, nghiền ngẫm, nhìn thẳng vào sự thật, sâu sát thực tế, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm, quyết tâm cao độ

Đồng chí Kim Ngọc làm Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc từ năm 1952 đến năm 1955, từ năm 1959 đến năm 1968, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú từ năm 1968 đến năm 1977. Hơn 20 năm với cương vị người đứng đầu cao nhất của tỉnh, đồng chí luôn trăn trở, nghiền ngẫm để cùng với Tỉnh ủy , Ban Thường vụ Tỉnh ủy,  đưa ra những quyết sách đầy sáng tạo. Để có những quyết sách kịp thời, hợp lòng dân đồng chí luôn gần dân sát dân, lắng nghe ý kiến của cán bộ đảng viên, chỉ đạo điều tra, khảo sát thực tế để từ đó có những nghị quyết thiết thực, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

Những năm giữa ở thập kỉ 60 của thế kỉ XX, cách làm ăn của các hợp tác xã đi xuống, năng suất lao động ngày càng giảm, thu nhập của nông dân ngày càng thấp.

Chế độ quan liêu, bao cấp khiến cho tư tưởng dựa dẫm, trông chờ, ỷ lại trỗi dậy. Cơ chế thị trường bị thủ tiêu. Lương thực, thực phẩm chia theo đầu người, quần áo vải vóc, cái kim sợi chỉ cũng phân phối. Ai cũng làm nhưng không ai làm đến nơi đến chốn. Ai cũng có ăn nhưng không đủ ăn, vẫn đói vẫn nghèo. Ai cũng có mặc nhưng không ai đủ mặc. Thấy những điều bất bình, bức xúc mà không ai dám nói. Quyền lợi không được gắn chặt với trách nhiệm.

Là người đứng đầu của một tỉnh, ông thường xuyên suy tư, nghiền ngẫm, nhìn thẳng vào sự thật, sâu sát thực tế, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đồng chí nhận rõ tất cả những yếu kém tiêu cực nêu trên đều do chế độ quan liêu, bao cấp đẻ ra, do cơ chế thị trường bị trói buộc, do chưa có cơ chế giúp cho mỗi người phát huy được mọi khả năng, tiềm năng sẵn có để lao động sáng tạo và cống hiến.

Ông cho rằng chỉ có giao quyền cho con người, xác định thái độ lao động, tinh thần trách nhiệm của mỗi người, nâng cao kĩ năng lao động với việc sử dụng các phương tiện công cụ lao động tiên tiến, thường xuyên áp dụng và cải tiến khoa học công nghệ, kỹ thuật mới, con người mới phát huy được hết khả năng và tiềm năng sẵn có của mình, năng suất lao động sẽ được nâng cao, đời sống vật chất và tinh thần của con người mới được nâng lên rõ rệt.

Chính vì lẽ đó với tư cách là Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí đã chủ trì khởi xướng, thống nhất ban hành những nghị quyết có giá trị. Có nghị quyết về thủy lợi là hàng đầu, nghị quyết về giao thông nông thôn, giao thông liên huyện, liên xã, nghị quyết về cải tiến và áp dụng khoa học kỹ thuật, nghị quyết về chăn nuôi, trồng trọt, nghị quyết về an ninh quốc phòng và đặc biệt là nghị quyết 68 ngày 10/9/1966 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc.

Tất cả các nghị quyết do ông chủ trì khởi xướng, thống nhất ban hành đều thể hiện tư tưởng dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm với quyết tâm cao độ phải thực hiện bằng được, phải thực hiện đúng và tốt những mục tiêu, phương hướng, những nhiệm vụ giải pháp mà nghị quyết đã chỉ ra.

Các nghị quyết đã ban hành đều được nhân dân đón đợi hoan nghênh và thực hiện có hiệu quả cao trên quê hương Vĩnh Phúc, Vĩnh Phú.

Ông luôn thổi một luồng sinh khí mới, tạo sức mạnh mới, động lực mới cho các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tầng lớp nhân dân đoàn kết, đồng thuận, thống nhất thực hiện.

Đó cũng là một yếu tố hợp thành nhân cách bản lĩnh, trí tuệ đổi mới sáng tạo của đồng chí Kim Ngọc.

Hơn nửa thế kỷ qua, mỗi cán bộ đảng viên, mỗi người dân Vĩnh Phúc, đặc biệt là những người cộng sự, những người cùng thời với ông đều kính trọng ông. Ông là niềm vinh dự, niềm tự hào của mỗi cán bộ đảng viên, nhân dân Vĩnh Phúc hôm nay và mai sau.

                         Nguyễn Đức Tẩm
Nguyên ủy viên BTVTU, nguyên Trưởng TGTU Vĩnh Phúc

Các tin đã đưa ngày: